Chương 1 TONG QUAN CAC VAN DE NGHIÊN CỨU 1.1 Tong quan về du lịch sinh thái.1 Khái niệm DLST. Du lịch: là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tam thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thé chất và tinh than, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thé thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa. Du lich sinh thái (DLST): Tổ chức bao tồn thiên thiên Quốc tế (IUCN) định nghĩa: “Du lịch sinh thái là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá dé thưởng thức thiên nhiên (và các đặc điểm văn hoá đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành), qua đó khuyên khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra và tạo ra ích lợi cho những người dân địa phương tham gia tích cực”. Ở Việt Nam, trong lần hội thảo về “Xây dựng chiến lược phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam” (9/1999) đã định nghĩa: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” [6], Loại hình du lịch sinh thái về thực chất là loại hình có quy mô không lớn, nhưng có tác dụng hoà nhập môi trường tự nhiên với điểm du lịch, khu du lịch và nền văn hóa; đây cũng là loại hình du lịch bền vững mà Tổ chức Du lịch thế giới đã khẳng định đối với các hoạt động du lịch nhằm vừa đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách cùng người dân ở vùng có du khách đến thăm quan, nghỉ dưỡng v.
đồng thời Trang 4 chú trọng tới việc tôn tao, bảo tồn các nguồn tài nguyên du lich dé có điều kiện phát triển hoạt động của du lịch trong tương lai. Theo tổ chức du lich thế giới (WTO) “Du lịch sinh thái bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi đó vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các tài nguyên thiên nhiên va phát triển du lich trong tương lai” [6]. Phát triển DLST bền vững không những đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững mà còn làm giảm tối thiểu các tác động của khách du lịch đến văn hóa, môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài nguyên do du lịch mang lại và cần chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên. Phát triển DLST bền vững cần có sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường trong khuôn khổ các nguyên tắc và các giá trị đạo đức (Allen K, 1993).2 Các loại hình du lịch sinh thái - Du lịch xanh, du lịch dã ngoại, du thuyền trên sông, hồ, biển.
- Du lịch thiên nhiên, tham quan miệt vườn, làng bản. - Du lịch môi trường. - Du lịch thám hiểm, mạo hiểm,lặn biển, thăm hang động. > Loại hình du lịch sinh thái có 3 nhiệm vụ chính là: - Bảo tồn tài nguyên của môi trường tự nhiên.
- Bảo đảm đối với du khách về các đặc điểm của môi trường tự nhiên mà họ đang chiêm ngưỡng. - Thu hút tích cực sự tham gia của cộng đồng địa phương, người dân bản địa trong việc quản lý và bảo vệ, phát triển du lịch đang triển khai thực hiện trong điểm du lịch, khu du lịch v. Theo đánh giá của các chuyên gia nghiên cứu về du lịch, muốn cho ngành du lich thật sự có thé phát triển bền vững cần phải dựa vào 3 yếu to: 1. Thị trường thế giới về những điểm du lịch mới và các sản phâm du lịch ngày càng gia tăng.
Phát triển du lịch phải coi trọng việc bảo tổn tài nguyên thiên nhiên. Du lịch trực tiếp mang lại nhiều lợi ích về kinh tế và cải thiện phúc lợi cho các cộng đồng. Trong nền công nghiệp du lịch hiện nay cả 3 nhân tố trên cần gắn bó chặt chẽ với nhau để cho mọi người nhận biết như một ngành DLST, đảm bảo môi trường và cảnh quan cho mọi điểm du lịch. Vì nếu chỉ riêng phát triển du lịch không thôi thì không phải là sự phát triển bền vững.
> Những yêu cầu cơ bản đối với du lịch sinh thái Người hướng dẫn viên và các thành viên tham gia DLST phải có nhận thức cao về môi trường sinh thái, am hiểu về điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội. Việc tô chức và điều hành loại hình du lịch sinh thái như thế nào để có thẻ: - Bảo tồn môi trường tự nhiên mà du lịch đang sử dụng. - Nâng cao ý thức của du khách dé họ nhận rõ đặc điểm của môi trường tự nhiên trong khi du lịch đang hoà mình vào đó. - Động viên trách nhiệm của dân cư địa phương tại khu du lịch, điểm du lịch có trách nhiệm quản lý bảo vệ và phát triển du lịch nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của môi trường du lịch và thiết thực tạo được lợi ích lâu dai.
Nói chung du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào những hình thức truyền thống sẵn có, nhưng có sự hoà nhập vào môi trường tự nhiên với văn hoá bản địa, du khách có thêm những nhận thức về đặc điểm của môi trường tự nhiên, về những nét đặc thù vốn có của văn hoá từng điểm, từng vùng, khu du lịch và có phần trách nhiệm tự giác dé không xảy ra những tốn thất, xâm hại đối với môi trường tự nhiên và nền văn hoá sở tại. Còn về quy mô của loại hình du lịch sinh thái thì tuỳ thuộc vào khả năng, điều kiện, biện pháp tô chức của nhà quản lý, từ quy mô nhỏ dần dần phát triển rộng rãi.3 Các yếu tố cầu thành hệ thống du lịch sinh thái > Yếu tố tài nguyên thiên nhiên: tài nguyên du lịch sinh thái được hình thành trên nền tảng các tài nguyên trong tự nhiên, mà bản thân tự nhiên thì rất đa dạng và phong phú, vì thế tài nguyên DLST cũng có chung đặc điểm nàybao gồm: các khu vực tự nhiên có địa hình, địa mạo phong phú như sông suôi, đôi núi, rừng, biên, đảo, Trang 6 cù lao. với các hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt là nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loại sinh vật quý hiếm. Như vậy tài nguyên DLST có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách.
Môi trường tự nhiên còn có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển nghỉ ngơi và du lịch, các thành phần của tự nhiên có tác động mạnh đến du lịch là địa hình, khí hậu, nguồn nước và tài nguyên động thực vật. > Yếu tố kinh tế: nhu cầu nghỉ ngơi du lịch có tính chất kinh tế — xã hội, là sản pham cua su phat triển xã hội. Ở các nước có nên kinh tế chậm phát triển, nhìn chung nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch còn hạn chế. Ngược lại nhu cầu nghỉ ngơi du lịch ở các nước kinh tế phát triển rất đa dạng.
Trong nền sản xuất xã hội nói chung hoạt động của một số ngành như công nghiệp, nông nghiệp và cả giao thông có ý nghĩa quan trọng dé phat triển du lịch, có tác dụng trước hết tạo ra hoạt động du lịch rồi sau đó đây phát triển du lịch với tốc độ nhanh hơn. > Yéu tố cơ sở hạ tầng: cơ sở hạ tầng có vai trò đặc biệt đối với việc đây mạnh du lịch. Cơ sở hạ tầng bao gồm các cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành kinh tế tham gia phục vụ du lịch như: thương nghiệp, dịch vụ, mạng lưới giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống các công trình cấp điện, nước. > Yếu tố văn hóa xã hội: là các giá trị văn hóa bản địa có sự hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái tự nhiên như các phương thức canh tác, các lễ hội sinh hoạt truyền thống dân tộc.
DLST phải dựa vào một hệ thống các quan điểm về tính chất bền vững và sự tham gia của các cộng đồng địa phương, của dân cư nông thôn và ở những nơi có tiềm năng lớn về DLST. DLST gắn kết giữa nhân dân địa phương với du khách dé duy trì những khu hoang da và những thế mạnh về sinh thái, văn hóa vốn có.4 Tác động của DLST lên môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội DLST phát triển mạnh mẽ đã đem lại lợi ích kinh tế rất nhiều nhưng nếu không được quản lý chặt chẽ và tô chức tốt thì sẽ có tác động không tốt đến tài nguyên thiên nhiên, môi trường và văn hóa xã hội. Trang 7 > Nguồn tài nguyên - Môi trường Phát triển DLST và các hoạt động có liên quan đã góp phần không nhỏ làm cho tài nguyên thiên nhiên và môi trường bị xuống cấp trầm trọng. Đó chính là hậu quả của việc sử dụng đất đai, xây dựng các cơ sở du lịch không đúng nơi hoặc không đảm bảo chất lượng làm ảnh hưởng đến tài nguyên đất,nước, không khí, tài nguyên tài nguyên sinh học và đa dạng sinh vật.
- Rac thai của những du khách sau một dot nghỉ chân sẽ làm 6 nhiễm cho khu vực đó vì thường rác thải của họ để lại là những túi nilon, những hộp thiếc. các loại rác thải này rất khó phân hủy. - Một số hành động thái quá của du khách như chặt cây, bẻ cành, săn bắn tự do các loài thú làm giảm sút số lượng và chất lượng của sinh vật trong phạm vi KDL. - Các yếu tố ô nhiễm như rác và nước thải không được xử ly đúng mức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ sinh thái dưới nước, việc tăng dộ phú dưỡng ở các hồ chứa nước đã tạo điều kiện tích tụ nhiều bùn lầy, làm suy thoái chất lượng nước và ảnh hưởng đến động vật hoang dã.
- Ô nhiễm không khí do vận chuyền khách du lịch sẽ tác động đến sự tăng trưởng của nhiều loài sinh vật thậm chí còn là nguyên nhân di chuyền nơi cư trú của nhiều loài động vật nhạy cảm với môi trường không khí - Việc phát triển thiếu quy hoạch các khu vực thuộc phạm vi các khu bảo tồn thiên nhiên hoặc vùng đệm có thể phá hủy môi trường cư trú, gây ô nhiễm, vàÖn ao ảnh hưởng đến các loài sinh vật.