chương 1 đã nêu rõ “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”, cụ thể như sau: Bảng 2. Tiêu chí phân loại Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam năm 2009 Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô nhỏ Tổng Tổng Số lao Số lao động Số lao động nguồn vốn nguồn vốn động I. Nông, Từ trên Từ trên 10 Từ trên 20 lâm nghiệp 10 người 20 tỷ đồng 200 người người đến tỷ đồng đến và thủy trở xuống trở xuống đến 300 200 người 100 tỷ đồng sản người Từ trên II. Công Từ trên 10 Từ trên 20 10 người 20 tỷ đồng 200 người nghiệp và người đến tỷ đồng đến trở xuống trở xuống đến 300 xây dựng 200 người 100 tỷ đồng người III.
Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 50 Thương 10 người 20 tỷ đồng người đến tỷ đồng đến người đến mại và trở xuống trở xuống 50 người 50 tỷ đồng 100 người dịch vụ Nguồn: Chính phủ (2009) Trong Nghị định này cũng nêu rõ tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo khái niệm này, DNNVV ở Việt Nam bao gồm các DN thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; các DNNN thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước; các HTX thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã; các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh (Chính phủ, 2000). Đây là quan niệm tương đối toàn diện và được kế thừa sử dụng trong luận văn. Tuy nhiên do công tác thu thập số liệu về các DNNN, HTX và hộ kinh doanh cá thể có nhiều khó khăn nên luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu khối DNNVV thuộc khu vực kinh tế tư nhân (DN dân doanh) và DNNVV có vốn đầu tư nước ngoài (DN FDI).
Trên thế giới, các nước có quan niệm rất khác nhau về DNNVV, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này tiêu thức dùng để phân loại quy mô DN khác nhau. Tuy nhiên trong hàng loạt các tiêu thức phân loại đó có hai tiêu thức được sử dụng ở phần lớn các nước là quy mô vốn và số lượng lao động. Mặt khác việc lượng hóa các tiêu thức để phân loại quy mô DN còn tùy thuộc vào những yếu tố như: Trình độ phát triển KT-XH của mỗi nước và những quy định cụ thể phù hợp với trình độ phát triển KT-XH trong từng giai đoạn. Trong các ngành nghề khác nhau thì tiêu chí độ lớn của các tiêu thức cũng khác nhau.
Điều này ta có thể thấy rõ thông qua Bảng số liệu 2. Tiêu thức xác định Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước và vùng lãnh thổ Tiêu thức áp dụng Nước Số lao động Tổng vốn hoặc giá trị tài sản Inđônêxia <100 <0.6 tỷ Rupi Xingapo <100 <499 triệu USD Thái Lan <100 <200 Bath <300 trong CN-XD <0.6 triệu USD Hàn Quốc <200 trong TM-DV <0.25 triệu USD <100 trong bán buôn <10 triệu Yên Nhật Bản <50 trong bán lẻ <100 triệu Yên EU <250 <27 triệu ECU Mêhicô <250 <7 triệu USD Mỹ <500 <20 triệu USD Nguồn: Nguyễn Đình Hương (2002) 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV có vị trí, vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Có được vị trí ấy xuất phát từ những ưu thế của loại hình này.
Ưu thế của Doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thỏa mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hóa, khuynh hướng sử dụng nhiều lao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là rất linh hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thị trường. DNNVV có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của các DN lớn (do quy mô nhỏ), sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi mà các DN lớn không đáp ứng vì mối quan tâm của họ đặt ở các thị trường có khối lượng lớn. Theo như những cơ sở lý luận chung của DNNVV của Thư viện Học liệu mở Việt Nam (VOER) đã viết: DNNVV là loại hình có địa điểm sản xuất phân tán, tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ nên nó có nhiều những điểm mạnh sau: Dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay đổi của thị trường: DN chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là có thể bắt đầu hoạt động. Vòng quay sản phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè, người thân dễ dàng.
Bộ máy tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định. Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ của nó, DN có thể dễ dàng phát hiện nhu cầu cảu thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng, từ đó DN sẽ tạo ra sự sống động trong phát triển kinh tế. Sẵn sàng đầu tư vào lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao: Các DN loại này có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao động nên có khả năng sẵn sàng mạo hiểm. Trong trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như những DN lớn, có thể làm lại từ đầu.
Bên cạnh đó các DNNVV có động cơ để đi vào các lĩnh vực mới này, do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với các DN lớn trong sản xuất dây chuyền hàng loạt. Họ phải dựa vào lợi nhuận thu được từ các cuộc kinh doanh mạo hiểm. Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp: DN có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép. Đồng thời DN tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn.
Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các DNNVV cũng có thể sản xuất được hàng hóa tốt có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện SXKD của DN có nhiều hạn chế. Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê với người lao động: Quy mô DNNVV tất nhiên là không lớn lắm, số lượng lao động trong một DN không nhiều, sự phân công lao động trong đơn vị chưa quá mức rõ rệt. Mối quan hệ giữa người thuê lao động và người lao động khá gắn bó. Nếu xảy ra xung đột, mâu thuẫn thì dễ dàn xếp (Thư viện học liệu mở Việt Nam, 2017a).
Hạn chế của Doanh nghiệp nhỏ và vừa Các hạn chế của loại hình DN này đến từ các yếu tố bên ngoài và từ chính các lợi thế của DNNVV. Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của DNNVV nằm trong chính đặc điểm của nó, đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các DN này thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị. Các DNNVV thường phụ thuộc vào DN mà nó cung cấp sản phẩm. Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường.
Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ DN, thiếu bí quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trong thiết kế sản phẩm, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Nói cách khác là năng lực sản xuất đáp ứng yêu cầu chất lượng bị hạn chế, khó nâng cao được năng suất và hiệu quả kinh doanh. Do tính chất nhỏ và vừa của nó, DNNVV gặp khó khăn trong thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương. Thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trường do đó các DNNVV thường tỏ ra bị động trong các quan hệ thị trường và gặp khó khăn trong thiết lập chỗ đứng vững chắc trong thị trường (Thư viện học liệu mở Việt Nam, 2017a).
Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân, các DNNVV đã đóng góp nhiều vào nền kinh tế, biểu hiện: Góp phần làm tăng GDP, tăng thu nhập cho người lao động và giá trị xuất khẩu cho nền kinh tế: Sự phát triển ngày càng mạnh của các DNNVV đã làm tăng tỷ trọng của khu vực này trong GDP và góp phần làm cho tốc độ tăng trưởng nền kinh tế nâng lên rõ rệt do tốc độ tăng của các DNNVV thường cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình của nền kinh tế. Các DN ra đời sẽ tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường lao động cũng như giá trị của người lao động. Mặt khác, các DNNVV đóng góp 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một phần đáng kể vào giá trị xuất khẩu hàng năm của nền kinh tế quốc dân. Kết quả những năm cho thấy các DNNVV góp phần làm tăng trưởng kinh tế, làm cho nền kinh tế năng động và hoạt động hiệu quả hơn.
Góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập cho dân cư: Việc hình thành nhiều DN ở các vùng nông thôn, vùng núi, vùng sâu,vùng xa làm cho tỷ trọng ngành nông nghiệp ở những vùng này giảm xuống, tỷ trọng những ngành công nghiệp, thương mại dịch vụ tăng lên. Các DNNVV đóng góp đáng kể trong cơ cấu GDP của địa bàn nhất là những vùng tỷ trọng nông nghiệp còn cao. Việc hình thành DNNVV làm tăng cơ cấu ngành công nghiệp và phát triển ngành thương mại dịch vụ trên địa bàn. Ngoài ra, sự ra đời và phát triển DNNVV làm cho thu nhập của các hộ dân cư xung quanh địa bàn DN đóng cũng được cải thiện đáng kể, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân.