CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ LOGISTICS 1. Téng quan vé Logistics 1. Khai niém va vai tro Logistics 1. Khái quát tình hình phát triển Logistics hiện đại Thế giới hiện đại của chúng ta ngày nay phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết với các tiến bộ khoa học - công nghệ diễn ra từng ngày, từng giờ.
Trong các tiến bộ đó, sự ra đời và phát triển của công nghệ tin học đã góp phần to lớn vào việc mở rộng hoạt động giao thương làm cho khối lượng giao dịch hàng hóa tăng lên gấp nhiều lần so với trước, đẩy nhanh hơn quá trình chuyên môn hóa, tự do hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Công nghệ tin học phát triển càng tạo điều kiện cho hệ thống thông tin được mở rộng, thông tin được truyền tải nhanh chóng, chính xác. Đây chính là một trong những tiên để để Logistics hiện đại ra đời và phát triển vượt bậc, sự phát triển này thể hiện rõ qua từng thập niên: a. Thập niên 1960 Vào những năm 1960-1970, hầu hết các công ty đã chuyển dần từ mô hình quản lý phân khúc từng quá trình riêng lẻ như vận tải, mua hàng và kho bãi sang mô hình quản lý tổng thể các chức năng có liên quan với nhau dưới hai quá trình được gọi là Quản trị vật tư (Hình 1.1) và Phân phối sản phẩm (Hình 1.
Quản trị vật tư là việc hoạch định, tổ chức, kiểm soát tất cả các hoạt động cũng như nhân sự liên quan tới dòng nguyên vật liệu đầu vào. Quản trị vật tư bao gồm các chức năng như mua nguyên vật liệu, quản lý hàng luân chuyển trong quá trình sản xuất, vận chuyển nội bộ, lập kế hoạch sản xuất. Phân phối sản phẩm là các hoạt động nhằm di chuyển hàng hóa (thành phẩm) từ cuối dây chuyên sản xuất tới khách hàng. Nó gồm các chức năng như vận tải, kho bãi, đóng gói bao bì, thực hiện đơn hàng, dự đoán nhu câu, kiểm soát hàng tổn kho và dịch vụ khách hàng.
Điểm cung cấp nguyên vật liệu Lưu kho nguyên vật liệu Van chuyé ; 4 về ; eure ân chuyên Lu kho bãi Vân chuyên cấp eo Hình 1.1: Quan tri vat tu / Logistics dau vao Sản xuất Thị trường, Thành phẩm Lưụ kho bãi - | „Lâghuyễ boy, Vận chuyển Địa điểm tiêu thụ Hình 1.2: Phân phối sản phẩm / Logistics đầu ra Trước 1960, các nhà quản trị có khuynh hướng xem các hoạt động phân phối là các hoạt động phổ thông và không đáng để chú ý, việc này dẫn đến chi phi tang nhanh và bất hợp lý. Chi phí này lẫn vào các chi phí gián tiếp, chi phí tổng hợp của công ty khiến cho người ta khó xác định mức độ thực sự của các chi phí phân phối để quản lý hàng hóa một cách hiệu quả. Thập niên 1970 Tới những năm 1970, chi phí hoạt động của các công ty tăng rất cao. Lạm phát phi mã đã lên tới hai chữ số, kết quả là chi phí nhân công, nhà xưởng, chi phí sử dụng vốn đã tăng đáng kể và làm tăng chỉ phí phân phối.
Mặt khác, giá xăng đầu lại leo thang do Tổ chức các nước xuất khẩu dâu lửa (Organization of Petroleum Exporting Countries - OPEC) đòi cắt giảm lượng cung trên thị trường, điểu này buộc các nhà quản trị phải tìm kiếm cách thức mới để kết nối các chức năng phân phối. Tự do hóa trong ngành vận tải cũng đưa lại cho các nhà quản trị những lựa chọn mới để cắt giảm chi phí, tăng hiệu quả hoạt động của mình. Vì vậy, cho tới những năm cuối của thập niên 1970, Quản trị vật tư và Phân phối sản phẩm đã được xem như một tổng thể hữu cơ và thuật ngữ Logistics kinh doanh đã mở rộng hơn (Hình 1. cấp NVL Lưu kho Sản xuất Lưu kho thành Thi trường NVL phẩm Thành phẩm Đầu vào \ 2 | Lư Lưu | „ 2" / Địađiểm %>| kho bãi kho |==>` tiêu tụ Logistics đầu vào Logistics đầu ra Hình 1.3: Hệ thống Logistics (Logistics kinh doanh) c.
Thập niên 1980 Trong thập niên 1980, sự phát triển của Logistics được đánh dấu rõ rệt nhất, việc đỡ bỏ những luật lệ cẩn trở, mở rộng dịch vụ Logistics đã làm thay đổi quan hệ giữa người chuyên chở và người gửi hàng. Các nhà chuyên chở tập trung mọi khả năng để giảm giá cước nhằm tiết kiệm chi phí vận tai, trong khi đó, người gửi hàng lại tập trung hàng hóa vào một số ít nhà vận chuyển mà họ đánh giá cao nhằm đạt được kết quả đàm phán tốt hơn cho công việc phân phối hàng hóa của mình, đó là lý do tại sao lượng người gửi hàng có vẻ ít hơn nhưng tổng công việc kinh doanh của một nhà vận tải nào đó lại gia tăng nhiều hơn. Vì thế, các nhà vận tải phải nỗ lực để lọt vào danh sách nhà thầu được người gửi hàng lựa chọn. Những nhà thầu thành công là người có dịch vụ khách hàng vượt trội, có các dịch vụ giá trị gia tăng hấp dẫn và giá cả ở mức hợp lý.
Một loạt các thông lệ mới đã nổi lên khi các nhà vận tải cũng như người gửi hàng muốn cố gắng cắt giảm chỉ phí và cải thiện dịch vụ của mình, bao gồm những hoạt động như lên hóa đơn và kiểm tra cước tự động, dùng hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử để hỗ trợ việc sử dụng hóa đơn điện tử không sử dụng giấy, tìm kiếm hàng hóa, tự tra cứu và tính cước, theo dõi các khiếu nại, thanh toán cước vv. Cũng trong thập niên 1980, nhiều công ty đã thay đổi cơ cấu để nâng cao khả năng cạnh tranh và tránh bị sáp nhập bởi công ty khác, thương mại thế giới phát triển mạnh, ngành dịch vụ bùng nổ nhanh chóng. Các công ty cung cấp dịch vụ Logistics bắt đầu xuất hiện nhiều hơn, hệ thống Just in time (JIT) do người Nhật sáng kiến cũng xuất hiện trong thời kỳ này. Nguyên tắc cơ bản của hệ thống này là không sản xuất hay vận chuyển hàng khi chưa có đặt hàng, nói cách khác, hệ thống JTT muốn đạt được mục đích cung ứng vật tư, hàng hóa theo nhu cầu thực sự của khách hàng trong thời gian ngắn nhất, giảm thiểu chỉ phí lưu kho.
Để đạt được điều này, vấn đề xử lý và truyền thông tin là yếu tố tối quan trọng. Thông tin kịp thời, chính xác sẽ thay thế cho việc sẵn xuất theo dự đoán và tôn kho sản phẩm. Hệ thống ]TT sẽ phản ứng nhanh chóng theo dạng “cầu kéo”, nghĩa là nhu cầu thực tế sẽ được thông tin kịp thời và hệ thống chỉ tạo ra một lượng cung tương ứng mà thôi. Thập niên 1990 Cho tới thập niên 1990 khi hoạt động của nhiều công ty đã bão hòa ở thị trường trong nước, buộc các công ty phải cắt giảm các chỉ phí để có thể kinh doanh hiệu quả hơn và vươn hoạt động ra các thị trường nước ngoài.
Vấn để rút ngắn thời gian để hàng hóa có mặt trên thị trường và nâng cao chất lượng dịch vụ cũng là hai yếu tố quan trọng khác nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Tổng hợp những yêu cầu khắt khe về chi phí, thời gian và chất lượng dịch vụ buộc các nha quan tri phải tìm ra những công cụ hữu hiệu mới để cải thiện, tiếp tục phát triển công việc kinh doanh. Đó chính là cải thiện hoạt động Logistics. Tuy nhiên, để có được công cụ hữu hiệu đó không phải là điều đơn giản, vì các công ty phải đầu tư công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin, mở rộng hệ thống trên toàn câu, phát triển nguồn nhân luc vv.
Vi vay, dé cắt giảm chỉ phí, thời gian phân phối hàng hóa, nâng cao chất lượng hoạt động mà không phải tốn nhiều chỉ phí đầu tư cũng như chịu rủi ro cho việc đâu tư đó, nhiều doanh nghiệp đã thuê các công ty cung cấp dịch vụ Logistics chuyên nghiệp thực hiện toàn bộ hoạt động Logistics của mình. Cũng trong thời kỳ này khi hệ thống doanh nghiệp ngày càng mở rộng với sự ra đời của nhiều công ty đa quốc gia hoạt động trên toàn cầu, chính sách của các công ty này chuyển sang hướng chuyên môn hóa việc sản xuất một hoặc vài loại sản phẩm tại những vùng sản xuất có lợi thế về nguyên liệu và nhân công. Sau đó, các nhà máy lắp ráp sẽ gắn kết các đơn vị của sản phẩm lại với nhau theo từng chặng. Các nhà máy có thể đặt cách xa nhau, từ nước này tới nước khác, châu lục này sang châu lục khác, kéo theo nhiễu chủ thể cùng tham gia vào dây chuyển cung ứng và hoạt động Logistics càng được mở rộng thêm, khái niệm Đây chuyên cung ứng đã xuất hiện trong giai đoạn này như một thuật ngữ mở rộng của Logistics.
Khái niệm Logistics Hiện nay có nhiều khái niệm Logistics khác nhau đang tổn tại, sau đây là một vài khái niệm tiêu biểu. Trong lĩnh vực quân sự, thuật ngữ Logistics có khái niệm là “hậu cần”. Trong kinh tế, có từ điển dịch là “một tổ chức các dịch vụ cung ứng”. Cũng có một số người lại dịch thuật ngữ Logistics là “tiếp vận”.
Andreas Froschmayer “Logistics là khoa học về sự tối ưu hóa dây chuyển cung ứng bằng những kiến thức và công nghệ tiên tiến nhất. ” Theo Hội đồng về quản trị Logistics của Hoa Kỳ có đưa ra định nghĩa: “Logistics là bộ phận của dây chuyển cung ứng, có nhiệm vụ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát dòng luân chuyển, tổn trữ hàng hóa, dịch vụ và thông tin có liên quan một cách hiệu quả, hiệu năng từ điểm bắt đầu tới điểm tiêu thụ nhằm thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng”. Theo Ủy Ban quản lý Logistics định nghĩa: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý và kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả, tiết kiệm nhất về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng”. Vai trò của Logistics Từ những điều trình bày ở trên, dù trực tiếp hay gián tiếp, hoạt động Logistics ảnh hưởng tới hầu hết các khía cạnh trong đời sống của con người.
Trong thời đại ngày nay người ta luôn mong muốn những dịch vụ hoàn hảo và điều đó sẽ đạt được khi phát triển dịch vụ Logistics.