Chương 1: Giới thiệu về đề tài bao gồm những nội dung tổng quan và phương pháp sử dụng trong đề tài báo cáo. Chương 2: Tổng quan về lý thuyết liên quan đến đề tài bao gồm các lý thuyết sử dụng để đề tài được trình bày một cách đầy đủ và súc tích. Chương cũng đã đưa ra những điểm sáng tạo mới của khóa luận so với những đề tài tham khảo khác. Chương 3: Thực trạng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân mua ô tô tại Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam – CN Gia Định – PGD Thị Nghè bao gồm những giới thiệu tổng quan về Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam như: các thông tin về lịch sử hình thành và phát triển của PVcomBank, tình hình hoạt động kinh doanh của PGD Thị Nghè trong giai đoạn 2013- 2015.
Bên cạnh đó là những thông tin chi tiết hơn về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân mua ô tô tại PGD. Điểm đáng nói là chương đã đưa ra những số liệu thống kê chi tiết để phân tích và nhận xét về tình hình, đánh giá về hiệu hoạt động cho vay khách hàng cá nhân mua ô tô tại PGD trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2015. Cuối cùng là phần phân tích SWOT để làm rõ hơn những mặt mạnh, yếu, cơ hội và thách thức trong hoạt động này. Chương 4: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân mua ô tô tại Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam – CN Gia Định – PGD Thị Nghè bao gồm những nội dung đánh giá về thành tựu, hạn chế trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân mua ô tô tại PGD dựa trên những phân tích từ chương 3.
Trọng tâm của chương là đưa ra những giải pháp thiết thực và cụ thể góp phần phát triển hoạt động này. Trần Thị Kim Ngân 3 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Dương Tấn Khoa CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Hiện nay, cho vay khách hàng cá nhân ngày càng được mở rộng.
Không chỉ dừng ở những khoản vay quen thuộc như trước kia, cụ thể như vay mua xe, mua nhà, đi du lịch mà khách hàng còn tìm đến nguồn vốn vay cá nhân vào các mục đích như: Vay cho đám hiếu, đám hỷ, học tập,… Cũng chính vì vậy mà hoạt động cho vay khách hàng cá nhân ngày càng không thể thiếu trong việc góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân nói riêng và cho cả xã hội nói chung. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Cho vay khách hàng cá nhân là các khoản vay nhằm tài trợ, phục vụ cho nhu cầu cuộc sống sinh hoạt chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người dân trang trải nhu cầu nhà ở, mua sắm đồ dùng gia đình, xe cộ, giáo dục, y tế và các dịch vụ khác hay nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh hộ gia đình (Nguyễn Thị Mùi, 2008). Đối tượng và đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân Đối tượng Đối tượng cho vay chủ yếu là cá nhân và các hộ gia đình, có đầy đủ năng lực pháp lý, gồm nhiều thành phần như: công nhân, viên chức nhà nước, lao động các đơn vị tư nhân, lao động tự do…Số lượng khách hàng cá nhân rất đông và rất đa dạng về ngành nghề, độ tuổi… thường chiếm khoảng 2/3 khách hàng của ngân hàng.
Khách hàng cá nhân thường chọn lựa ngân hàng để vay theo cảm tính, họ rất quan tâm đến những chương trình khuyến mãi và rất dễ thay đổi sự lựa chọn nếu họ phát hiện một ngân hàng khác có chương trình ưu đãi hơn so với ngân hàng hiện tại. Thông thường, nhu cầu vay của họ khá nhỏ và mang tính thời vụ, thường là những khoản vay ngắn, trung hạn thường dưới 5 năm. Trần Thị Kim Ngân 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Dương Tấn Khoa Đặc điểm Thứ nhất, cho vay khách hàng cá nhân dựa trên cơ sở lòng tin.
Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn; còn người đi vay thì tin tưởng vào khả năng kiếm được tiền trong tương lai để trả nợ gốc và lãi vay (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Thứ hai, số lượng khách hàng lớn nhưng quy mô khoản vay thường không cao. Khác hoàn toàn so với khách hàng doanh nghiệp là chỉ cần một lượng nhỏ khách hàng là số lượng tiền vay đã rất cao. Dó đó mà đối với khách hàng cá nhân, ngân hàng sẽ tốn kém nhiều chi phí hơn, đặc biệt là chi phí quản lý, chăm sóc.
Chính vì thế, các ngân hàng thương mại phải tìm kiếm số lượng lớn khách hàng lớn mới có thể tăng nguồn thu nhập. Thứ ba, cho vay khách hàng cá nhân phải dựa trên nguyên tắc không chỉ hoàn trả gốc mà phải cả lãi. Nếu không có sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay (Nguyễn Văn Tiến, 2013).
Thứ tư, cho vay khách hàng cá nhân là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc đánh giá độ an toàn của hồ sơ vay vốn là rất khó. Vì luôn tồn tại thông tin bất cân xứng dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Đặc biệt là đối với sản phẩm cho vay tín chấp.
Thứ năm, khách hàng cá nhân thường ít “nhạy cảm” với lãi suất, họ thường chỉ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất đã được thỏa thuận. Đồng thời, nhu cầu vay của họ chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng. Nguồn trả nợ chủ yếu từ thu nhập hàng tháng. Phân loại hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Cho vay khách hàng cá nhân được chia ra làm nhiều loại khác nhau, căn cứ vào các tiêu chí phân loại khác nhau như sau: Căn cứ theo mục đích cho vay Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản như nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
Trần Thị Kim Ngân 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Dương Tấn Khoa Cho vay nông nghiệp: Là các khoản cho vay cấp cho các hoạt động nông nghiệp, nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Cho vay tiêu dùng thông thường: Đây là khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm phương tiện vận chuyển, trang thiết bị nhà cửa, du lịch, học hành, giải trí…. Khác với cho vay tiêu dùng bất động sản, những khoản vay này thường có quy mô nhỏ và thời hạn cho vay ngắn.
Căn cứ vào phương thức hoàn trả Cho vay trả góp: Là hình thức đi vay trong đó người đi vay trả nợ (số tiền cả gốc và lãi) làm nhiều lần theo kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay (Nguyễn Thị Mùi, 2008). Cho vay phi trả góp: Là loại cho vay được thanh toán một lần theo định kỳ đã thỏa thuận (Lê Văn Tề, 2009). Căn cứ vào thời hạn cho vay Cho vay ngắn hạn: Là loại hình cho vay với thời hạn dưới 1 năm, thường được vay cho mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc bổ sung vốn tạm thời đối với hộ gia đình kinh doanh. Cho vay trung hạn: Là loại hình cho vay với thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định (Nguyễn Minh Kiều, 2011). Đối với khách hàng cá nhân, loại hình này được sử dụng phần lớn, thường dành cho mục đích mua nhà, sữa chữa nhà, mua xe. Cho vay dài hạn: Là loại hình cho vay với thời hạn cho vay trên 5 năm, được dùng cho các gói sản phẩm mua nhà, đất dự án; đầu tư vào các dự án. Căn cứ vào bảo đảm tín dụng Cho vay không có TSĐB: Là loại hình cho vay chỉ dựa vào uy tín của khách hàng, không cần tài sản đảm bảo hay bảo lãnh của bên thứ 3.
Muốn được ngân hàng cho vay theo hình thức này, khách hàng phải chứng minh được năng lực tài chính tốt và đảm bảo được nguồn trả nợ. Thông thường, những khách hàng có quan hệ lâu năm và có uy tín lớn mới được cho vay không có tài sản đảm bảo (Nguyễn Minh Kiều, 2009). Cho vay có TSĐB: Là hình thức cho vay mà khách hàng phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba. Hình thức cho vay này áp dụng đối với những khách hàng không đủ uy tín, khi vay vốn phải có tài sản đảm bảo hoặc phải có người bảo lãnh.
Tài sản đảm bảo hoặc bảo lãnh của người thứ ba là căn cứ pháp lý để ngân Trần Thị Kim Ngân 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Dương Tấn Khoa hàng có thêm nguồn thu dự phòng khi nguồn thu chính (dòng tiền) của con nợ thiếu hụt, do lo sợ phát mại tài sản đã tạo áp lực buộc con nợ phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Căn cứ vào xuất xứ tín dụng Cho vay trực tiếp: Đối với hình thức này, ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng (Lê Văn Tề, 2009). Nghĩa là hai bên trực tiếp giao dịch với nhau.
Cho vay gián tiếp: Là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ đã phát sinh và còn trong tới gian thanh toán (Lê Văn Tề, 2009). Trình tự cho vay khách hàng cá nhân Bước 1: Tìm kiếm khách hàng tiềm năng. Hầu hết sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân phát sinh trực tiếp từ nhu cầu của khách hàng thông qua việc tiếp xúc với cán bộ tín dụng để hoàn thành đơn xin vay (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Khi mới làm quen với vai trò chuyên viên khách hàng cá nhân, các nhân viên ngân hàng thường tìm kiếm khách hàng bằng cách gọi điện cho khách hàng để mời mọc mở tài khoản, tư vấn sản phẩm và thiết lập quan hệ.
Sau một thời gian gắn bó với công việc, họ sẽ có nhiều khách hàng hơn.