CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THƯƠNG HIỆU VÀ NÂNG CAO SỨC MẠNH THƯƠNG HIỆU NÔNG SẢN 1.1 Những lý luận cơ bản về thương hiệu 1.1Bàn về khái niệm thương hiệu • Thương hiệu hay nhãn hiệu? Trong Đại từ điển tiếng Việt, chỉ có khái niệm nhãn hiệu được đề cập và được chú nghĩa là “dấu hiệu riêng của cơ sở sản xuất được dán, in trên mặt hàng hóa”; còn trong Bộ luật dân sự trước năm 2005, tại Điều 785, nhãn hiệu của hàng hóa được định nghĩa là “những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh, hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc". Gần đây nhất, Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT - có hiệu lực từ 01/07/2006), trong phần giải thích từ ngữ đã xác định rõ nhãn hiệu là “dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” và nhãn hiệu là một trong các đối tượng được bảo hộ sở hữu công nghiệp trong luật này. Nhưng Luật SHTT lại không đề cập đến từ thương hiệu.
Được xuất bản vào năm 2006, cuối cùng thì từ điển tiếng Việt của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn cũng đưa ra khái niệm thương hiệu rất ngắn gọn và xem nó đồng nghĩa với nhãn hiệu, đều là “các dấu hiệu để phân biệt những hàng hóa khác nhau”. Như vậy, nếu so sánh khái niệm “nhãn hiệu” với chính nó ở hai thời điểm khác nhau (trước và sau năm 2005) thì sau năm 2005, khái niệm nhãn hiệu đã được mở rộng ra nhiều hơn. Tuy vậy trên thực tế, nhãn hiệu vẫn được hiểu phổ biến theo nghĩa cũ (phải thấy được hay dán in trên hàng hóa) và thương hiệu vẫn được cho là một khái niệm rộng hơn nhãn hiệu rất nhiều. • Thương hiệu hữu hình hay vô hình? Trong thời gian qua, thương hiệu, theo rất nhiều quan điểm và ngữ cảnh, được hiểu là các yếu tố vô hình như danh tiếng, uy tín và tên tuổi mặc dù nó không được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nêu ra chính xác là như vậy.
Ví dụ, theo PGS. Ngô Thị Hoài Lam, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, thì “thương hiệu có thể hiểu về bản chất là danh tiếng của sản phẩm, dịch vụ hoặc của doanh nghiệp mà khách hàng nhận biết nhờ vào nhãn hiệu hàng hóa và những yếu tố ẩn bên trong nhãn hiệu đó.” Nhưng theo nhiều tổ chức về giáo dục, tiếp thị, và kinh doanh trên thế giới như Hiệp hội Marketing Mỹ, nhà xuất bản Barron’s, Đại học Columbia, thì thương hiệu là một hoặc kết hợp các dấu hiệu cụ thể gồm tên, màu sắc, biểu tượng dùng để phân biệt các hàng hóa và các tổ chức khá nhau. Chính vì có nhiều quan điểm, thương hiệu được xem là một khái niệm rộng và phức tạp. Đỉnh cao của sự rộng và không đơn giản này là khái niệm do GS.
Tôn Thất Nguyễn Thiêm đúc kết từ những luận giải của ông trong các nghiên cứu về thương hiệu, đó là “cả một sự kiện xã hội – kinh tế, văn hóa và tâm lý tổng thể”; và thương hiệu “bao gồm tất cả những gì mà khách hàng/thị trường/xã hội thật sự cảm nhận về doanh nghiệp hay/và về những sản phẩm - dịch vụ cung ứng bởi doanh nghiệp.” Với cách nhìn nhận như vậy, theo ông, thương hiệu chỉ có “trọng lực” hay sức mạnh khi nó thích ứng và phản ảnh tốt cả ba khía cạnh: xã hội, tổ chức và sản phẩm, như trong sơ đồ 1.1: Trọng lực của thương hiệu: “một sự kiện xã hội – kinh tế, văn hóa và tâm lý tổng thể” X: Giao điểm tạo nên sức mạnh của thương hiệu. A: Các đặc tính phản ảnh triết lý sống của xã hội và A trào lưu tiêu dùng đương thời. B: Đặc tính của lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp. X C: Đặc tính của sản phẩm cung ứng bởi doanh nghiệp.
B C Nguồn: tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm Minh họa cho sơ đồ 1.1 là cả một quá trình tiến hóa của thương hiệu. Trong quá trình này, đặc tính của thương hiệu phụ thuộc rất nhiều vào những bối cảnh khác nhau của xã hội và thị trường. Thương hiệu được hình thành bắt đầu từ những yếu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 tố, những dấu hiệu rất cụ thể mà gắn bó với nó là những hàm ý. Cụ thể, tại các quốc gia Châu Âu và Mỹ, sự tiến hóa của thương hiệu được đánh dấu qua các cột mốc sau: Khoảng đầu thế kỉ thứ 19 đến năm 1880: Đây là giai đoạn mà sản xuất hàng hóa rất phát triển cùng với hệ thống đường sắt liên lục địa.
Việc tạo ra thương hiệu – tên khởi đầu từ ý muốn khác biệt hóa của doanh nghiệp. Do đó, thông qua những phương tiện truyền thông đại chúng, doanh nghiệp quảng bá tên cùng những tính chất đặc trưng của sản phẩm để thị trường có thể xác nhận được nguồn gốc của chúng. Do vậy, vai trò của thương hiệu trong giai đoạn này là một yếu tố bổ sung cho sản phẩm để xác nhận nguồn gốc của sản phẩm và cũng là một yếu tố giúp khách hàng nhận dạng được sản phẩm giữa các mặt hàng cùng chủng loại. Hơn thế nữa, thương hiệu cũng là một dấu hiệu đảm bảo về mặt chất lượng.
Từ năm 1945 đến năm 1960: Tại Châu Âu sau Thế chiến thứ hai, việc tiêu dùng chủ yếu nhằm đáp ứng những nhu cầu vật chất bù đắp cho những thiếu thốn trong chiến tranh, xây dựng lại xã hội và phát triển kinh tế thời hậu chiến. Do vậy, thương hiệu trong môi trường lịch sử này gắn bó với những ý nghĩa hay mang các đặc tính hết sức “thực dụng”, thể hiện qua việc các doanh nghiệp tập trung cung cấp “hàng nhiều, giá thấp” và hoạt động sản xuất mang tính đại trà nhằm phục vụ cho việc tiêu dùng đại trà. Từ cuối năm 1960 đến đầu năm 1970: Ở giai đoạn này thì xã hội đã khá đầy đủ về vật chất thường ngày, con người bắt đầu phát sinh thêm những đòi hỏi khác. Việc tiêu dùng lúc này không chỉ đáp ứng nhu cầu cơ bản cần thiết mà còn phải đáp ứng thêm các nhu cầu về tinh thần là khẳng định và chứng minh vị thế cá nhân.
Vì vậy, các doanh nghiệp bắt đầu chú ý đến những lĩnh vực nằm ngoài giá trị sử dụng vốn có của sản phẩm để tạo sức hấp dẫn cho thương hiệu. Từ năm 1980 đến 1990: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Đây là thời kỳ đầy những biến động do sự tác động của các cuộc khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng kinh tế đồng thời với sự phát triển của nền “kinh tế bong bóng” bởi dư thừa lượng tài chính tại thị trường chứng khoán, xuất hiện một tầng lớp “nhà giàu mới” phất nhanh nhờ thắng lớn trên thị trường chứng khoán. Nhu cầu tiêu dùng “hào nhoáng” ngày càng phổ biến. Xã hội phân hóa và mối quan hệ giữa thị trường và thương hiệu thiên nhiều về cảm tính hơn là lý tính.
Việc tiêu dùng lúc này vừa phải đáp ứng nhu cầu căn bản vừa phải còn để chứng minh vị thế cá nhân, do đó doanh nghiệp tạo ra những thương hiệu mới, trên cơ sở những triết lý sống mới. Từ năm 1990 đến nay: Thế giới xảy ra nhiều sự kiện lớn: sự thay đổi các nhu cầu tại các xã hội Âu – Mỹ; Liên Xô và Đông Âu tan rã; sự bất lực của nhiều nhà nước Tây Âu và Mỹ trong việc đảm trách vai trò bảo trợ an sinh xã hội; công nghiệp sản xuất hàng hóa gây ra nhiều thảm họa về môi trường; ý thức ngày càng tăng về thể diện quốc gia…dẫn đến sự gia tăng về khuynh hướng/triết lý sống của xã hội như: “giải phóng cá nhân”; “con người phải tự tìm lối thoát cho mình”; “tìm một lối sống mang ý nghĩa nhân sinh, chân thực”; con người ngày càng nhận thức được sự vô nghĩa và phi lý của nền “kinh tế hào nhoáng, khoe của” nên hành vi tiêu dùng ngày càng hướng nhiều đến “tâm” và “đức”; mong muốn thể hiện “ý thức trách nhiệm công dân”. Chính vì vậy, đặc tính của nhiều thương hiệu thời điểm này thiên về “sinh thái”; “xanh”; “an toàn”; “đạo đức”, “vì cộng đồng” để thỏa mãn khát vọng “chân, thiện, mỹ” của xã hội. Từ quá trình tiến hóa trên, thương hiệu đã luôn phải được cập nhật và thể hiện được các đặc tính của thời đại về khuynh hướng, nhu cầu và sản phẩm, như ở giao điểm X, trong sơ đồ 1.1 để có thể thu hút được công chúng.
Đây chính là căn cứ gốc rễ cho sự hình thành thương hiệu: Hoàn cảnh sống và nhu cầu của con người tác động qua lại và gắn bó chặt chẽ với nhau. Mà nhu cầu của con người thì thường thay đổi theo nhiều cung bậc như trong sơ đồ 1.2, và cũng đã được thể hiện rất rõ trong quá trình lịch sử nêu trên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: 5 thang bậc nhu cầu Maslow 5. Nhu cầu tự ngã 4.
Nhu cầu được kính trọng 3. Nhu cầu yêu 2. Nhu cầu an toàn thương 1. Nhu cầu sinh lý Nguồn: Abraham Maslow Năm bậc nhu cầu này có thể tóm tắt ở hai khía cạnh là các nhu cầu căn bản vật chất, lý tính (bậc thang ở đáy: các nhu cầu thuộc về bản năng, sinh lý) và các nhu cầu mang tính chất cảm tính, xã hội, tinh thần (bốn bậc thang lên cao, lần lượt là các nhu cầu về: sự an toàn; tình yêu; sự kính trọng; nhận thức về bản thân).
Thông thường, khi những nhu cầu cơ bản nhất được thỏa mãn thì con người sẽ phát sinh những nhu cầu cao hơn, mang tính chất cảm tính nhiều hơn. Đó là lý do tại sao mà thương hiệu phải có những thay đổi để thích ứng và biểu hiện. Tất cả những quan điểm nêu trên có thể đưa chúng ta vào tình thế bị dao dộng giữa hai phía của câu hỏi thương hiệu vô hình hay hữu hình? Nếu thương hiệu vô hình, làm sao mua bán, sử dụng, sở hữu và kiểm soát được chúng? Cái gì tạo ra những “cảm nhận”, “danh tiếng”, “uy tín”, “tên tuổi”? Nếu như thương hiệu là các dấu hiệu rất cụ thể thì nó đã được hình thành và phát triển như thế nào? Tác giả đã tìm thấy được những câu trả lời đầy thuyết phục về thương hiệu từ cuốn Nguyên lý tiếp thị của hai tác giả Philip Kotler và Gary Armstrong. • Sản phẩm và thương hiệu: tại sao khách hàng chọn thương hiệu? LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.