MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Vùng núi Việt Nam có số dân khoảng 25 triệu người, trong đó có hơn 10 triệu người là dân tộc thiểu số, còn lại là người Kinh chuyển từ vùng đồng bằng lên miền núi để tăng cường cán bộ và phát triển các vùng kinh tế mới. Trên các điều kiện sinh thái và dân cư đa dạng đó có thể sản xuất ra các sản phẩm phong phú về chủng loại có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, do điều kiện địa hình phức tạp, trình độ của người dân còn chưa cao đang là trở ngại lớn cho việc phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng đường sá, tiếp nhận thông tin, mở mang thị trường vì vậy hiện nay ở các tỉnh miền núi này đời sống kinh tế của người dân còn gặp nhiều khó khăn, thu nhập thấp, tỉ lệ hộ nghèo còn cao đặc biệt là các hộ dân tộc thiểu số.
Hà Giang là một trong những tỉnh Miền núi nghèo nằm ở vùng cao biên giới địa đầu cực Bắc của Tổ quốc, là một trong số ít những tỉnh có dân tộc Bố Y sinh sống, nằm cách xa các trung tâm kinh tế lớn của cả nước địa hình, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, trình độ sản xuất và nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế, giao thông đi lại gặp rất nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người còn rất thấp, đặc biệt là thu nhập của người nông dân. Nếu như thu nhập bình quân đầu người của người nông dân cả nước là 0.8 triệu đồng một tháng thì của người nông dân Hà Giang chỉ khoảng 0.45 triệu đồng một tháng. Hà Giang là tỉnh có tỉ lệ hộ nghèo cao trên 35% đặc biệt ở một số huyện vùng cao núi đá phía bắc (Đồng Văn, Mèo Vạc, Xín Mần) của tỉnh có tỉ lệ hộ nghèo trên 50%.Với điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, sản xuất nông nghiệp còn ở trình độ thấp, sản xuất hàng hóa nhỏ, phổ biến ở hầu hết tất cả các huyện trong đó có huyện Quản Bạ. Mặc dù phát triển sản xuất và thu nhập của các hộ đã từng bước có nhiều chuyển biến, nhưng ở các hộ 2 vẫn chủ yếu là sản xuất tự cung, tự cấp, tâm lý tiểu nông vẫn còn tồn tại, sản xuất theo hình thức trang trại còn ít, đã có sự chuyển dịch sang sản xuất hàng hóa nhưng còn chưa phổ biến và chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của huyện.
Là huyện cửa ngõ của cao nguyên đá với 22 dân tộc anh em cùng sinh sống, là địa phương duy nhất của tỉnh Hà Giang có dân tộc Bố Y sinh sống (hiện còn hơn 808 người) sống tập trung chủ yếu ở xã Quyết Tiến. Xã Quyết Tiến nằm trên quốc lộ 4C cách trung tâm huyện Quản Bạ 9km, trong những năm qua tình hình phát triển kinh tế của xã đã có những chuyển biến và đạt được một số thành tựu, song bên cạnh còn rất nhiều khó khăn, đặc biệt là cuộc sống của các hộ dân tộc thiểu số. Dân tộc Bố Y là một trong tám dân tộc ít người nhất ở Việt Nam. Ở đây đời sống vật chất, tinh thần đồng bào dân tộc Bố Y còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo của đồng bào dân tộc Bố Y còn cao.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, tập quán canh tác sản xuất còn lạc hậu, thu nhập bình quân đầu người còn thấp so với bình quân chung của cả tỉnh. Tỉ lệ thất nghiệp cao, khả năng tiếp cận thị trường kém. Có một số bộ phận thoát nghèo nhưng thiếu bền vững, nguy cơ tái nghèo cao. Chính những vấn đề trên làm cho việc sản xuất kinh doanh của các hộ dân tộc Bố Y còn gặp nhiều khó khăn kéo theo thu nhập của các hộ còn tương đối thấp.
Trên cơ sở đó, nhằm đưa ra giải pháp để cải thiện thu nhập cho hộ dân tộc Bố Y ở xã Quyết Tiến, đồng thời nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân, làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội địa phương hoà nhập với tiến trình phát triển chung của cả tỉnh. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao thu nhập cho các hộ dân tộc Bố Y (Pu-Y) tại xã Quyết Tiến huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang”. Mục tiêu nghiên cứu đề tài 1. Mục tiêu chung - Đánh giá thực trạng thu nhập của các hộ dân tộc Bố Y tại xã Quyết Tiến, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ dân tộc Bố Y trong thời gian tới.
Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn liên quan đến vấn đề thu nhập của hộ nông dân ở Việt Nam nói riêng và các nước trong khu vực nói chung. - Đánh giá được đặc điểm, về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của xã Quyết Tiến. - Đánh giá thực trạng thu nhập của các hộ dân tộc Bố Y tại xã Quyết Tiến. - Tìm hiểu các nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ dân tộc Bố Y tại xã Quyết Tiến.
- Đề xuất định hướng một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ dân tộc Bố Y trên địa bàn xã trong thời gian tới. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài giúp cho sinh viên nâng cao được năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng của mình, vận dụng những kiến thức đã được học ở nhà trường vào thực tiễn, đồng thời bổ sung những kiến thức còn thiếu và kỹ năng tiếp cận các phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân phục vụ tốt cho công việc sau này. Đề tài nghiên cứu về một vấn đề mang tính nổi cộm do vậy kết luôn của đề tài sẽ là tiền đề là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo, đồng thời cũng 4 là cơ sở khoa học để đưa ra những quy hoạch hợp lý, góp phần thiết thực trong việc thực hiện có hiệu quả quá trình CNH – HĐH.
Ý nghĩa thực tiễn Vấn đề được quan tâm nhất và rất cần thiết với người dân là thu nhập, vậy kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được coi là tài liệu thiết thực giúp xã Quyết Tiến thấy được thực tế đời sống của người dân. Đồng thời các giải pháp của đề tài đưa ra có ý nghĩa thực tiễn đối với vấn đề tạo việc làm, ổn định và tăng thu nhập cho người dân góp phần thực hiện thắng lợi quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn. 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm cơ bản 2.
Khái niệm về hộ Có rất nhiều nhà khoa học quan tâm, tìm hiểu và nghiên cứu những vẫn đề xung quanh về hộ và hộ nông dân mỗi người có một quan niệm khác nhau: -Theo Weberster – từ điển kinh tế học năm(1990): Hộ là những người cùng sống chung một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ. -Theo Mc Gê năm (1989): Hộ là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà và ăn chung một mâm cơm. Theo các tác giả nhóm nhân chủng học từ năm 1982 – 1985: Hộ là đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất lao động tiếp theo thông qua quá trình sản xuất lao động tiếp theo thông qua quá trình tổ chức nguồn thu nhập nhằm chi tiêu cho các cá nhân và đầu tư vào sản xuất.[6] Như vậy các cá nhân và các tổ chức khi nhìn nhận và quan niêm về hộ không giống nhau. Tuy nhiên, trong đó có những nét chung để phân biệt về hộ đó là: + Chung hay không cùng chung huyết tộc + Cùng chung sống dưới một mái nhà + Cùng chung một nguồn thu nhập (ngân quỹ) + Cùng ăn chung + Cùng tiến hành sản xuất chung 2.
Khái niêm về hộ nông dân - Theo giáo sư Franmekellist (1988) cho rằng: Hộ nông dân là các hộ sản xuất, thu nhập, kiếm sống, chủ yếu từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu là lao động gia đình vào sản xuất luôn nằm trong một hệ thống kinh tế rộng lớn, 6 nhưng cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường với mức độ hoàn hảo không cao.[6] Như vậy, qua các quan điểm của nhà khoa học về hộ nông dân có thể thống nhất được rằng: Hộ nông dân là một bộ phân kinh tế nằm trong hệ thống kinh tế quốc dân, bộ phận này không thể tách rời nền kinh tế quốc dân và thu nhập của các hộ nông dân chủ yếu là dựa vào đất đai và sống chủ yếu ở khu vực nông thôn. Thu nhập và các vấn đề liên quan đến thu nhập - Khái niệm về thu nhập Thu nhập: Là phần còn lại của giá trị tổng thu từ các ngành sản xuất kinh doanh như: Trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất ngành nghề sau khi đã trừ các khoản chi phí vật chất, khấu hao, lãi vay, công lao động, công thuê ngoài.[3] Thu nhập của hộ dân cư: Là toàn bộ số tiền và giá trị của hiện vật sau khi trừ chi phí sản xuất mà hộ dân cư và các thành viên của hộ nhận được trong 1 thời kỳ nhất định, thường là 1 năm. Như vậy, thu nhập hỗn hợp bao gồm cả công lao động gia đình.[3] + Thu nhập thường xuyên: được hiểu là các khoản thu nhập phát sinh thường xuyên, có tính chất đều đặn và ổn định trong năm và có thể dự tính được, bao gồm: Các khoản thu nhập dưới các hình thức: tiền lương, tiền công, tiền thù lao; Các khoản thu nhập dưới hình thức là các khoản thưởng mang tính chất tiền lương, tiền công bằng tiền, bằng hiện vật từ các nguồn khác nhau của người lao động làm việc tại các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.[3] 7 +Thu nhập không thường xuyên: là các khoản thu nhập phát sinh theo từng lần, từng đợt riêng lẻ, không có tính chất đều đặn, bao gồm: Đi làm thuê khi hết mùa vụ, thời gian nông nhàn… Thu nhập về từ quà biếu, qùa tặng bằng hiện vật do các tổ chức, cá nhân từ nước ngoài gửi về cho cá nhân Việt Nam dưới mọi hình thức. Trúng thưởng xổ số.[3] Thu nhập bình quân đầu người: Là chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng phản ánh “mức thu nhập và cơ cấu thu nhập của các tầng lớp dân cư”.