CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU NSNN CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM 1. Vai trò thu ngân sách nhà nước của Hải quan 1. Các nguồn thu Ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật (Khoản 1 - Điều 1 - Luật NSNN năm 2002). a) Các khoản thu từ thuế: - Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế.
Trên góc độ Nhà nước và cơ quan quản lý thuế, thuế được hiểu là hình thức huy động nguồn tài chính cho NSNN nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho bộ máy của Nhà nước và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước đối với sự ổn định và phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Nhu cầu chi tiêu của Nhà nước là rất lớn và thường xuyên, do vậy để có kinh phí tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của mình, Nhà nước phải thực hiện động viên, phân phối lại từ thu nhập của các chủ thể kinh tế khác tham gia vào hoạt động của nền kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, do tính không ngang giá và không hoàn trả trực tiếp, đối tượng chịu thuế không tự nguyện hay sẵn sàng nộp cho nên Nhà nước phải sử dụng quyền lực để bắt buộc các chủ thể kinh tế đóng góp thông qua việc ban hành các Luật Thuế. Do vậy có thể hiểu đơn giản, thuế là nghĩa vụ tài chính bắt buộc đối với các đối tượng chịu thuế và được phổ biến thành luật.
Đối với mỗi quốc gia trên thế giới, thuế luôn là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước. Mỗi quốc gia đều mong muốn thuế trở thành nguồn thu chính 5 của ngân sách nhà nước vì nguồn thu từ thuế phản ánh được tình hình phát triển kinh tế của quốc gia và thu nhập của người dân. Hiện nay, hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam bao gồm các loại thuế chủ yếu như sau: - Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào ngân sách Nhà nước, thuế được phân làm 2 loại: Thuế trực thu và thuế gián thu + Thuế trực thu: Là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các pháp nhân hoặc thể nhân. Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theo quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế.
Thuế trực thu trực tiếp động viên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế. Ở nước ta loại thuế này gồm: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp. + Thuế gián thu: Là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đối với người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tính chất gián thu thể hiện ở chổ người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau.
Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịu thuế. Ở nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt. - Căn cứ vào đối tượng đánh thuế, thuế được chia thành: + Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như: Thuế giá trị gia tăng. + Thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá như: Thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt.
+ Thuế đánh vào thu nhập như: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. + Thuế đánh vào tài sản như: Thuế nhà đất. + Thuế đánh vào việc khai thác hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia như: 6 Thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất. b) Các khoản thu từ phí, lệ phí: - Phí là một trong các khoản thu của NSNN do tổ chức, cá nhân nộp vào ngân sách nhà nước khi thụ hưởng lợi ích từ hàng hoá, dịch vụ công cộng được cung cấp bởi Nhà nước.
Phí khác với thuế ở chỗ, phí có tính đối giá và hoàn trả trực tiếp, trong khi đó, thuế không có các đặc điểm này. Phí chỉ có mục đích nhằm bù đắp những khoản đầu tư, bảo dưỡng các công trình công cộng và duy trì hoạt động dịch vụ công (Y tế, giáo dục .) của Nhà nước. Chỉ có các cơ quan nhà nước do pháp luật quy định mới được quyền ban hành phí. Theo quy định của Pháp lệnh Phí và Lệ phí và Nghị định hướng dẫn của Chính phủ thì hiện nay tại Việt Nam có 73 nhóm phí với 171 khoản phí khác nhau.
Ví dụ: Phí sử dụng đường bộ, học phí, phí niêm phong, kẹp chì, lưu kho hải quan, phí phát hành, thanh toán trái phiếu kho bạc. - Lệ phí là những khoản thu gắn liền với việc cung cấp các dịch vụ hành chính pháp lý của nhà nước cho các cá nhân và tổ chức nhằm phục vụ cho công việc quản lý hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật. Cần lưu ý là khoản tiền đó không phải là giá của dịch vụ mà là khoản thu phục vụ cho yêu cầu quản lý của nhà nước. Lệ phí là khoản thu gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước nên có đặc điểm là không đối giá.
Tuy nhiên, khác với thuế, chủ thể nộp lệ phí được thụ hưởng lợi ích từ hoạt động quản lý nhà nước nên lệ phí có tính hoàn trả. Theo quy định của Pháp lệnh Phí và Lệ phí và Nghị định hướng dẫn của Chính phủ thì hiện nay tại Việt Nam có 43 nhóm lệ phí với 130 khoản lệ phí khác nhau. Ví dụ: Lệ phí làm thủ tục hải quan, lệ phí áp tải hải quan, lệ phí hộ tịch, lệ phí đăng ký kết hôn, lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. c) Các khoản thu khác ngoài thuế, phí, lệ phí: * Các khoản thu từ bán tài sản của nhà nước và thu từ lợi tức cổ phần của nhà nước: 7 Để quản lý và điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội, Chính phủ tham gia vào các hoạt động kinh tế ở những mức độ nhất định như đầu tư, tài trợ, góp vốn … Việc nhà nước tham gia vào các hoạt động đó có thể phát sinh các khoản thu từ lợi tức cổ phần, thu hồi vốn của nhà nước đầu tư vào các cơ sở kinh tế.
Khoản thu về sử dụng vốn ngân sách Nhà nước là một khoản thu vào yếu tố sản xuất, kinh doanh tính trên số vốn ngân sách Nhà nước cấp và có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước bao gồm cả vốn cố định và vốn lưu động. Ngoài ra, nhà nước có thể cho thuê hoặc bán các tài sản của nhà nước. Tiền bán hoặc cho thuê công sản là khoản thu thuộc về ngân sách nhà nước Chế độ thu về sử dụng vốn ngân sách Nhà nước: * Thu ngân sách Nhà nước qua vay nợ: - Vay trong nước: Các khoản vay trong nước đều được thực hiện thông qua việc Chính phủ phát hành các loại giấy tờ có giá như trái phiếu, công trái, trái phiếu kho bạc, tín phiếu kho bạc. Toàn bộ nguồn vốn thu được từ việc phát hành các loại giấy tờ có giá đều phải được tập trung vào ngân sách nhà nước để sử dụng cho các nhu cầu chi đầu tư phát triển kinh tế theo kế hoạch và mục tiêu đã được Chính phủ đề ra.
- Vay nước ngoài: Là các khoản vay do Chính phủ vay và cam kết thực hiện nghĩa vụ với nước ngoài. Đó cũng có thể là những khoản vay do Chính phủ ủy quyền cho các doanh nghiệp vay được Bộ Tài chính hoặc Ngân hàng nhà nước Việt Nam đứng ra bảo lãnh. Toàn bộ vốn vay nước ngoài của Chính phủ đều phải được cân đối và ghi vào ngân sách. * Các khoản viện trợ: Viện trợ là nguồn vốn thuộc chương trình hợp tác của chính phủ các nước, các tổ chức nước ngoài dành cho một quốc gia.
Viện trợ nước ngoài là nguồn quan trọng để bổ sung cho ngân sách nhà nước, góp phần hỗ trợ nhà nước thực hiện các khoản chi phát triển, cải cách kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Viện trợ có thể là song phương hoặc đa phương. Viện trợ có thể dưới hình thức có hoàn lại hoặc không hoàn lại. Ngoài ra, thu ngân sách nhà nước còn có thể bao gồm các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Vai trò thu ngân sách nhà nước của Hải quan Việt Nam 8 Ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 10/9/1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thừa ủy quyền của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký Sắc lệnh số 27 - SL thành lập "Sở thuế quan và thuế gián thu" tiền thân của Hải quan Việt Nam ngày nay. Việc thành lập Sở thuế quan và Thuế gián thu ngay sau khi thành lập Nhà nước cách mạng có ý nghĩa chính trị sâu sắc, khẳng định chủ quyền của nước Việt Nam độc lập, đồng thời khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của ngành thuế quan cách mạng lúc đó và ngành Hải quan ngày nay trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Từ khi thành lập đến nay, trải qua hơn 60 năm trưởng thành và phát triển, căn cứ vào tình hình thực tế, chức năng, nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam được quy định như sau: * Giai đoạn 1945 - 1954: Giai đoạn này Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ: Thu các quan thuế nhập cảnh và xuất cảnh, thu thuế gián thu. Sau đó, Ngành Hải quan được giao thêm nhiệm vụ chống buôn lậu thuốc phiện và có quyền định đoạt, hòa giải đối với các vụ vi phạm về thuế quan và thuế gián thu.
Nhiệm vụ chính trị của Hải quan Việt Nam thời kỳ này là bám sát và phục vụ kịp thời nhiệm vụ của Cách mạng, tạo nguồn thu cho Ngân sách quốc gia, kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu, đấu tranh chống buôn lậu giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm.