CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Lí luận chung về quản trị nguồn nhân lực và khu nghĩ dưỡng SVTH: Nguyễn Thị Thúy – K47B QTKDTH 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hữu Thủy 1. Khu nghĩ dưỡng ( Resort) Khái niệm về Resort Hiện nay theo nghĩa chung nhất thì: Khách sạn nghĩ dưỡng (Resort) là loại hình khách sạn được xây dựng độc lập thành khối hoặc thành quần thể gồm các biệt thự, căn hộ du lịch, băng-ga-lâu (bungalow) ở khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp, phục vụ nhu cầu nghĩ dưỡng, giải trí, tham quan du lịch.
Đặc điểm của Resort Yên tĩnh, xa khu dân cư Xây dựng theo hướng hòa mình với thiên nhiên Có không gian và cảnh quan rộng, thoáng, xanh Có hệ thống dịch vụ liên hoàn, tổng hợp có thể đáp ứng mọi nhu cầu của khách như dịch vụ giải trí, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, luyện tập thể thao. Giá cũng khá đắt so với giá phòng khách sạn cùng tiêu chuẩn Hoạt động của các Resort ở Việt Nam có những đặc điểm sau: Về hình thức tổ chức kinh doanh: Các Resort chủ yếu là hình thức liên doanh nước ngoài hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Nhờ vậy tạo điều kiện cho những tập đoàn chuyên kinh doanh Resort đem tới kinh nghiệm quản lí tạo điều kiện nâng cao chất lượng hoạt động của các Resort Về cơ sở vật chất kĩ thuật: Do các khu Resort được xay dựng ở các vùng biển hoặc các nơi có tài nguyên du lịch nên kiến trúc của các khu Resort thường là các khu nhà thấp tầng mang tính gần gũi với môi trường, gần gũi với thiên nhiên nhưng vẫn đảm bảo tới sự sang trọng và tiện nghi. Diện tích của các khu Resort thường từ 1 Hecta đến 40 Hecta và diện tích ngày càng được mở rộng vì đặc trưng của các khu Resort thường là các khu vực có không gian rộng rãi trong đó diện tích xây dựng thường chiếm tỉ lệ nhỏ Về cách thức tổ chức quản lí: Thường áp dụng theo tiêu chuẩn của các tập đoàn nước ngoài, trong đó một số Resort được áp dụng bộ phận chuyên trách công tác quản lí môi trường.
SVTH: Nguyễn Thị Thúy – K47B QTKDTH 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hữu Thủy Về chất lượng lao động: Hầu hết các Resort là cơ sở hạng cao sao nên chất lượng tuyển chọn người lao động được chú trọng nhằm đảm bảo chất lượng của cơ sở. Một số khái niệm về Quản trị nguồn nhân lực Nhân lực Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm cả thể lực và trí lực. Thể lực là chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, thu nhập, chế dộ ăn uống, nghĩ ngơi…Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu.của từng người.
(Theo Ths Nguyễn Vân Điềm & PGS.Nguyễn Ngọc Quân, 2007). Nhân lực: Bao gồm tất cả những tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội ( kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Nguồn nhân lực Ở nước ta, nguồn nhân lực hiện nay không còn xa lạ với nền kinh tế. Tuy nhiên cho đến nay quan niệm về vấn đề này hầu như chưa thống nhất.
Tùy theo mục tiêu cụ thể mà người ta có các quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Có ý kiến cho rằng: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó”.(Theo Ths Nguyễn Vân Điềm & PGS.Nguyễn Ngọc Quân, 2007, trang 7). Quan điểm của PGS.Trần Kim Dung cho rằng: Nguồn nhân lực của một doanh nghiệp là tổng hợp các cá nhân có vai trò khác nhau và họ liên kết với nhau theo một số mục tiêu nhất định trong quá trình lao động. Theo giáo sư Phạm Minh Hạc thì nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia vào một công việc nào đó.
Quản trị nguồn nhân lực SVTH: Nguyễn Thị Thúy – K47B QTKDTH 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hữu Thủy Theo Giáo sư người Mỹ Dinock cho rằng: “ Quản trị nhân sự bao gồm toàn bộ những biện pháp và thủ tục áp dụng cho nhân viên của một tổ chức và giải quyết tất cả những trường hợp xảy ra có liên quan đến một loại công việc nào đó”.(Nguồn: Giáo trình Quản trị nhân sự, TS. NGUYỄN KHẮC HOÀN, 2009, trang 175).TS NGUYỄN TÀI PHÚC & ThS. BÙI VĂN CHIÊM cho rằng: “Quản trị nhân lực bao gồm việc hoạch định (kế hoạch hóa), tổ chức, chỉ huy và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con người để có thế đạt được các mục tiêu của tổ chức”.
Đi sâu vào việc làm của quản trị nhân lực, người ta còn có thể hiểu QTNL là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông qua tổ chức của nó.(Nguồn:Giáo trình quản trị nhân lực, PGS.TS NGUYỄN TÀI PHÚC & ThS. Bên cạnh đó, quản trị nguồn nhân lực còn là hệ thống của các triết lí, các chính sách, các hoặt động chức năng về thu hút, đào tạo – phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên.Trần Kim Dung, 2011). Song, dù ở giác độ nào thì QTNL vẫn là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu của công việc của tổ chức cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Mục tiêu và tầm quan trọng của quản trị nguồn nhân lực Tầm quan trọng của Quản trị nguồn nhân lực Không một hoạt động nào của tổ chức mang lại hiệu quả nếu thiếu “ Quản trị nguồn nhân lực”.
Quản trị nguồn nhân lực là bộ phận cấu thành và không thể thiếu của Quản trị kinh doanh. Quản trị nguồn nhân lực thường là nguyên nhân của thành công hay thất bại trong các hoạt động sản xuất - kinh doanh. Thực chất của QTNNL là công tác quản lí con người trong phạm vi nội bộ một tổ chức, là sự đối xử của tổ chức đối với người lao động. Nói cách khác, QTNNL chịu trách nhiệm đưa con người vào tổ chức giúp họ thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động của họ và giải quyết các vấn đề phát sinh.
SVTH: Nguyễn Thị Thúy – K47B QTKDTH 9 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hữu Thủy Quản trị nguồn nhân lực đóng vai trò trung tâm trong việc thành lập các tổ chức và giúp cho các tổ chức tồn tại và phát triển trên thị trường. Tầm quan trọng của QTNNL trong tổ chức xuất phát từ vai trò quan trọng của con người. Con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức, vận hành tổ chức và quyết định sự thành bại của tổ chức.
Mặt khác, quản lí các nguồn lực khác cũng sẽ không có hiệu quả nếu tổ chức không quản lí tốt nguồn lực, vì suy cho cùng mọi hoạt động quản lí đều được thực hiện bởi con người. Trong thời đại ngày nay, QTNNL càng có tầm quan trọng hơn. vì vậy, nghiên cứu về QTNNL sẽ giúp các nhà quản trị học được cách giao tiếp với người khác; biết cách đặt câu hỏi và biết cách lắng nghe, biết cách tìm ra ngôn ngữ chung với nhân viên, biết cách đánh giá nhân viên chính xác, biết cách lôi cuốn nhân viên say mê về công việc và tránh được các sai lầm trong việc tuyển chọn, sử dụng lao động để nâng cao chất lượng thực hiện công việc và nâng cao hiệu quả cảu tổ chức. Mục tiêu của Quản trị nguồn nhân lực Mục tiêu của QTNNL là nhằm cung cấp cho doanh nghiệp một lực lượng lao động có hiệu quả.
Để đạt được mục tiêu này, các nhà quản trị phải biết cách tuyển dụng, phát triển, đánh giá và duy trì nhân viên của mình. Để có được nguồn nhân sự đáp ứng cho chiến lược phát triển, QTNNL phải nhằm thực hiện những mục tiêu cơ bản sau: Mục tiêu xã hội: Doanh nghiệp phải đáp ứng nhu cầu và thách đố của xã hội, doanh nghiệp hoạt động vì lợi ích của xã hội chứ không pahir chỉ của riêng mình. Mục tiêu thuộc về tổ chức: QTNNL là tìm cách thích hợp để các bộ phận cũng như toàn bộ doanh nghiệp có được những người làm việc hiệu quả. QTNNL chỉ là một phương tiện giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu.
Mục tiêu chức năng và nhiệm vụ: Mỗi bộ phận phòng ban đều có chức năng nhiệm vụ riêng, vì thế mỗi bộ phận phòng ban phải đóng góp phục vụ cho mục tiêu chung của doanh nghiệp. Mục tiêu cá nhân: Nhà quản trị phải giúp cho nhân viên mình đạt được các mục tiêu cá nhân của họ. Nhà quản trị phải nhận thức rằng nếu lãng quên mục tiêu cá nhân của nhân viên, năng suất lao động sẽ giảm và nhân viên có thể sẽ rời bỏ doanh nghiệp. SVTH: Nguyễn Thị Thúy – K47B QTKDTH 10 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
Nguyễn Hữu Thủy 1. Chức năng của Quản trị nguồn nhân lực Các hoạt động liên quan đến QTNNL rất đa dạng và thay đổi trong các tổ chức khác nhau. Tuy nhiên, có thể phân chia các hoạt động chủ yếu của QTNNL theo ba nhóm chức năng chủ yếu sau: Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực: Nhóm chức năng này chú trọng vấn đề đảm bảo có đủ số lượng nhân viên với các phẩm chất phù hợp cho công việc của doanh nghiệp, căn cứ vào kế hoạch sản xuất, kinh doanh và thực trạng sử dụng nhân viên trong doanh nghiệp. Nhóm chức năng này gồm các hoạt động như: dự báo và hoạch định nguồn nhân lực; phân tích công việc; phỏng vấn; thu thập thông tin… Nhóm chức năng đào tạo, phát triển: Nhóm này chú trọng việc nâng cao năng lực của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong doanh nghiệp có các kĩ năng, trình độ cần thiết để hoàn thành tốt công việc được giao và tạo điều kiện cho nhân viên được phát triển tối đa năng lực cá nhân.