Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống tài chính công hiện đại, thuế thu nhập cá nhân đóng vai trò trụ cột nhằm huy động nguồn lực cho ngân sách nhà nước và điều tiết công bằng xã hội. Tại các quốc gia phát triển, sắc thuế này thường chiếm từ 30% đến 40% tổng thu ngân sách, trong khi tại các nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á, tỷ trọng này dao động quanh mức 13% đến 14%. Tại huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên – một địa bàn miền núi với quy mô dân số năm 2015 đạt 48.000 người, lực lượng trong độ tuổi lao động là 27.631 người và gần 50% là đồng bào dân tộc thiểu số – công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân đang đứng trước nhiều cơ hội lẫn thách thức đan xen.

Năm 2016, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Sông Hinh đạt trên 73 tỷ đồng, tuy nhiên số thu từ thuế thu nhập cá nhân chỉ đạt 3.255,52 triệu đồng, chiếm tỷ trọng khiêm tốn khoảng 4,5%. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là hiệu quả quản lý thu thuế chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế địa phương; số thuế thu được qua các năm dù tăng trưởng nhưng chưa năm nào vượt dự toán được giao, đồng thời tình trạng nợ đọng thuế gia tăng đột biến từ 10,09 triệu đồng năm 2014 lên mức 324,55 triệu đồng năm 2016.

Mục tiêu của luận văn là đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế huyện Sông Hinh giai đoạn 2014 - 2016, nhận diện các hạn chế cốt lõi trong từng khâu nghiệp vụ và xác định nguyên nhân căn bản. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp và kế hoạch thực hiện mang tính khả thi nhằm tăng cường hiệu lực quản lý, phấn đấu đưa tỷ lệ hoàn thành dự toán vượt mốc 100%, bảo đảm sự bình đẳng giữa những người nộp thuế và chống thất thu ngân sách nhà nước tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý thuế hiện đại, Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 và Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 71/2014/QH13). Quản lý thuế thu nhập cá nhân được tiếp cận dưới góc độ toàn bộ hoạt động tổ chức, điều hành của cơ quan thuế nhằm bảo đảm thu đúng, thu đủ và kịp thời các nghĩa vụ thuế trực thu vào ngân sách nhà nước.

Khung phân tích vận dụng bốn mô hình tổ chức bộ máy cơ quan thuế kinh điển: mô hình quản lý theo chức năng, mô hình theo sắc thuế, mô hình theo đối tượng người nộp thuế và mô hình kết hợp hiện đang áp dụng tại Việt Nam. Các khái niệm nền tảng bao gồm: cơ chế tự khai - tự nộp, khấu trừ thuế tại nguồn, quản lý rủi ro tuân thủ và mức giảm trừ gia cảnh (mức 9 triệu đồng/tháng đối với người nộp thuế áp dụng trong thời kỳ nghiên cứu).

Bên cạnh đó, đề tài kế thừa khung nhân tố tác động từ các công trình khoa học tiêu biểu: mô hình phân loại nhân tố khách quan và chủ quan của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (năm 2015), nghiên cứu thực tiễn quản lý thuế của tác giả Nguyễn Thị Nụ (năm 2013) tại địa bàn cấp huyện và nghiên cứu hoàn thiện quản lý thu thuế thu nhập cá nhân của tác giả Nguyễn Thị Kim Hân (năm 2015) trên địa bàn tỉnh Phú Yên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chính thống thu thập từ hệ thống báo cáo quyết toán, thống kê nghiệp vụ và hồ sơ quản lý thuế của Chi cục Thuế huyện Sông Hinh trong giai đoạn 3 năm liên tục từ 2014 đến 2016.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 100% hồ sơ khai thuế, 377 mã số thuế hoạt động đến cuối năm 2016 trên địa bàn 10 xã và 1 thị trấn của huyện Sông Hinh. Mẫu khảo sát tổ chức nhân sự bao gồm toàn bộ 27 cán bộ, công chức và người lao động của Chi cục, trong đó có 22 cán bộ trình độ đại học (chiếm 81,5%) và 5 cán bộ trình độ trung cấp (chiếm 18,5%). Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho thực trạng quản lý thuế tại địa bàn miền núi.

Phương pháp phân tích chủ đạo là thống kê mô tả kết hợp phân tích so sánh chuỗi thời gian (chỉ số tuyệt đối và tương đối). Việc lựa chọn phương pháp này giúp phản ánh trực quan động thái biến thiên của các chỉ tiêu dự toán và thực thu, đánh giá sâu sắc tác động từ sự thay đổi chính sách pháp luật thuế đến hành vi tuân thủ của người nộp thuế. Toàn bộ quy trình xử lý dữ liệu và tổng hợp kết quả được thực hiện hoàn chỉnh trong giai đoạn 2017 - 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, số thu thuế thu nhập cá nhân có sự tăng trưởng liên tục về quy mô nhưng chưa đạt mức vượt dự toán pháp lệnh. Năm 2014, số thực thu đạt 1.864,75 triệu đồng (đạt 95,7% dự toán 1.946,90 triệu đồng); năm 2015 tăng lên 2.712,50 triệu đồng (tăng 45,5% so với năm 2014, đạt 99,3% dự toán 2.732,00 triệu đồng); năm 2016 đạt 3.255,52 triệu đồng (tăng 20% so với năm 2015, đạt 99,6% dự toán 3.266,00 triệu đồng). So sánh đối chuẩn với Chi cục Thuế huyện Phú Hòa – địa bàn lân cận có sự tương đồng nhất định – huyện Phú Hòa luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch với tỷ lệ đạt 101,84% năm 2014; 253,23% năm 2015 và 172,77% năm 2016.

Thứ hai, có sự phân hóa và chuyển dịch sâu sắc trong cơ cấu nguồn thu. Thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân tăng mạnh từ 194,85 triệu đồng năm 2014 lên 672,70 triệu đồng năm 2015 (tăng 345%) và đạt 709,66 triệu đồng năm 2016. Tương tự, thuế từ chuyển nhượng bất động sản tăng từ 622,76 triệu đồng năm 2014 lên 1.846,20 triệu đồng năm 2016 (tăng gần 3 lần). Ngược lại, thuế từ đầu tư vốn sụt giảm nghiêm trọng từ 890,80 triệu đồng năm 2014 xuống còn 550,70 triệu đồng năm 2016 (giảm 38,2%), trong khi số lượng mã số thuế cấp mới cho cá nhân kinh doanh giảm mạnh từ 150 mã năm 2015 xuống chỉ còn 53 mã năm 2016 (giảm 65%).

Thứ ba, công tác thanh tra, kiểm tra và thu hồi nợ đọng bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Số lượng người nộp thuế nợ tiền thuế tăng vọt từ 37 người (10,09 triệu đồng nợ) năm 2014 lên 277 người (324,55 triệu đồng nợ) năm 2016, trong đó nợ từ cá nhân kinh doanh chiếm tới 318,53 triệu đồng (chiếm 98,1% tổng nợ). Về kiểm tra thuế, mặc dù số cuộc kiểm tra tại trụ sở tăng từ 10 cuộc năm 2014 lên 15 cuộc năm 2016 (100% trường hợp kiểm tra năm 2016 đều vi phạm), nhưng số tiền thuế thu nhập cá nhân truy thu được lại giảm liên tục từ 21,51 triệu đồng năm 2014 xuống 20,00 triệu đồng năm 2015 và chỉ còn 6,98 triệu đồng năm 2016 (giảm 67,5%).

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng đột biến của nguồn thu từ cá nhân kinh doanh và chuyển nhượng bất động sản phản ánh tác động tích cực của Luật số 71/2014/QH13 khi chuyển đổi phương pháp tính thuế theo tỷ lệ trực tiếp trên doanh thu từ ngày 01/01/2015, kết hợp với các giao dịch đất đai sôi động tại địa phương. Tuy nhiên, việc sụt giảm nguồn thu từ đầu tư vốn và tiền lương phản ánh thực trạng cơ quan thuế chưa kiểm soát được thu nhập ngoài lương và tình trạng giao dịch tiền mặt phổ biến.

Tình trạng nợ đọng thuế bùng phát và số tiền truy thu thuế thu nhập cá nhân giảm sâu bắt nguồn từ việc nhân lực Đội Kiểm tra thuế quá mỏng khi chỉ có 3 cán bộ phụ trách kiểm tra kiêm nhiệm cả công tác kiểm tra nội bộ lẫn quản lý nợ. Các biện pháp đôn đốc chủ yếu dừng ở việc ban hành thông báo (năm 2016 ban hành 167 lượt thông báo mẫu 07/QLN) mà chưa triển khai quyết liệt các biện pháp cưỡng chế theo luật định (toàn giai đoạn chỉ phát sinh 2 trường hợp cưỡng chế hóa đơn).

Các dữ liệu nghiên cứu này có thể được mô hình hóa rất hiệu quả thông qua biểu đồ cột thể hiện mức độ chênh lệch dự toán - thực thu giữa hai huyện Sông Hinh và Phú Hòa, biểu đồ đường biểu diễn sự tăng vọt của nợ đọng thuế giai đoạn 2014 - 2016, và biểu đồ tròn mô tả sự thay đổi tỷ trọng giữa các nguồn thu thuế trực thu.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm khắc phục triệt để các hạn chế, nâng cao hiệu quả quản trị thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế huyện Sông Hinh, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện công tác quản lý đối tượng nộp thuế và mở rộng cấp mã số thuế:

    • Hành động: Rà soát toàn diện người nộp thuế, phối hợp với chính quyền xã nắm bắt các hộ kinh doanh cá thể, chuẩn hóa dữ liệu định danh.
    • Chỉ tiêu mục tiêu: Phục hồi và tăng số lượng cấp mã số thuế cho cá nhân kinh doanh thêm 40% mỗi năm, bảo đảm 100% cơ sở kinh doanh phát sinh trên địa bàn được cấp mã và theo dõi trên hệ thống ứng dụng quản lý thuế tập trung (TMS).
    • Tiến độ thực hiện: Triển khai định kỳ hàng quý, hoàn thiện cơ sở dữ liệu số hóa trong vòng 6 tháng đầu năm 2019.
    • Chủ thể chịu trách nhiệm: Đội Kê khai - Kế toán thuế & Tin học chủ trì, phối hợp với 2 Đội thuế liên xã.
  2. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra thuế:

    • Hành động: Ứng dụng quản trị rủi ro trong phân loại hồ sơ khai thuế, tăng cường kiểm tra chuyên đề đối với các lĩnh vực rủi ro cao như chuyển nhượng bất động sản và đầu tư vốn.
    • Chỉ tiêu mục tiêu: Tăng số lượng cuộc kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế từ 15 cuộc lên tối thiểu 25 cuộc/năm; nâng số tiền thuế thu nhập cá nhân truy thu và phạt vi phạm tăng ít nhất 50% so với mức đáy 6,98 triệu đồng năm 2016.
    • Tiến độ thực hiện: Xây dựng kế hoạch vào quý 1 hàng năm và thực hiện kiểm tra cuốn chiếu suốt năm tài chính từ 2019.
    • Chủ thể chịu trách nhiệm: Đội Kiểm tra thuế phối hợp trực tiếp với Ban Lãnh đạo Chi cục.
  3. Quyết liệt xử lý nợ đọng và đẩy mạnh các biện pháp cưỡng chế nợ thuế:

    • Hành động: Phân loại chính xác các nhóm nợ có khả năng thu và nợ khó đòi; áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp cưỡng chế tài khoản, phong tỏa hóa đơn đối với các trường hợp cố tình chây ỳ.
    • Chỉ tiêu mục tiêu: Giảm tỷ lệ nợ thuế thu nhập cá nhân xuống dưới mức 5% tổng thu ngân sách (giảm từ 324,55 triệu đồng xuống dưới 150 triệu đồng); xử lý cưỡng chế đúng pháp luật 100% các khoản nợ quá hạn trên 90 ngày.
    • Tiến độ thực hiện: Rà soát đôn đốc hàng tháng, kiên quyết hoàn thành chỉ tiêu thu hồi nợ đọng trong vòng 12 tháng.
    • Chủ thể chịu trách nhiệm: Bộ phận Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế thuộc Đội Kiểm tra thuế.
  4. Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền và tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành:

    • Hành động: Đổi mới nội dung phát thanh chuyên mục thuế (vượt trên tần suất 2 lần/tháng hiện tại), thiết lập quy chế chia sẻ dữ liệu tự động với Văn phòng đăng ký đất đai và Công an huyện.
    • Chỉ tiêu mục tiêu: Tổ chức tối thiểu 4 hội nghị đối thoại/năm với sự tham gia của trên 350 lượt người nộp thuế; nâng tỷ lệ giải quyết vướng mắc thủ tục thuế hài lòng đạt trên 95%.
    • Tiến độ thực hiện: Ký kết quy chế phối hợp trong quý 2/2019 và thực hiện xuyên suốt.
    • Chủ thể chịu trách nhiệm: Đội Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế chủ trì, phối hợp UBND các xã, thị trấn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ lãnh đạo và công chức tại các Chi cục Thuế khu vực miền núi: Cung cấp giải pháp xử lý các bài toán nghiệp vụ đặc thù về quản lý nguồn thu phân tán, xử lý nợ thuế hộ kinh doanh và tối ưu hóa nhân lực kiểm tra trong điều kiện biên chế tinh giản.
  2. Cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và huyện (Cục Thuế tỉnh Phú Yên, UBND huyện Sông Hinh): Tham khảo làm căn cứ xây dựng dự toán thu ngân sách sát với tiềm năng thực tế; thiết lập cơ chế chỉ đạo phối hợp liên ngành giữa tài chính, tài nguyên môi trường và ngân hàng.
  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản lý công: Nguồn tư liệu thực chứng phong phú với chuỗi số liệu 3 năm chi tiết, phục vụ công tác giảng dạy và phát triển các đề tài nghiên cứu về cải cách hành chính thuế, chính sách thuế trực thu.
  4. Kế toán doanh nghiệp và các cá nhân kinh doanh: Nắm bắt rõ quy trình kê khai, nghĩa vụ khấu trừ thuế tại nguồn 10%, hồ sơ quyết toán và các chế tài xử phạt hành chính nhằm chủ động phòng ngừa rủi ro pháp lý.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao số thu thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế huyện Sông Hinh tăng liên tục nhưng không vượt mức dự toán?

Mặc dù số thực thu tăng từ 1.864,75 triệu đồng năm 2014 lên 3.255,52 triệu đồng năm 2016, tỷ lệ hoàn thành chỉ đạt từ 95,7% đến 99,6%. Nguyên nhân do nguồn thu đầu tư vốn sụt giảm 38,2% và số người nợ thuế tăng nhanh lên 277 người với tổng tiền nợ 324,55 triệu đồng, gây thất thoát chỉ tiêu giao.

Luật sửa đổi số 71/2014/QH13 đã tạo ra chuyển biến gì đối với nguồn thu từ hộ kinh doanh tại Sông Hinh?

Quy định áp dụng thu thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu từ ngày 01/01/2015 đã đơn giản hóa thủ tục hành chính, giúp số thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh tại huyện Sông Hinh tăng trưởng vượt bậc 345%, từ 194,85 triệu đồng năm 2014 lên 672,70 triệu đồng năm 2015 và 709,66 triệu đồng năm 2016.

Nguyên nhân chính khiến số tiền thuế thu nhập cá nhân truy thu qua kiểm tra sụt giảm trong giai đoạn 2014 - 2016 là gì?

Số thuế truy thu giảm sâu từ 21,51 triệu đồng năm 2014 xuống chỉ còn 6,98 triệu đồng năm 2016 do Đội Kiểm tra thuế chỉ có 3 cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ. Thêm vào đó, thói quen giao dịch tiền mặt của 48.000 dân cư khiến việc xác minh các khoản thu nhập ngoài lương gặp nhiều rào cản.

Tình trạng nợ thuế thu nhập cá nhân gia tăng đột biến xuất phát từ những lỗ hổng quản lý nào?

Tổng nợ thuế tăng hơn 32 lần, từ 10,09 triệu đồng năm 2014 lên 324,55 triệu đồng năm 2016, tập trung 98,1% ở cá nhân kinh doanh. Lỗ hổng nằm ở khâu thu hồi khi cơ quan thuế mới dừng ở việc gửi 167 lượt thông báo đôn đốc mà thiếu các biện pháp cưỡng chế tài khoản hoặc thông báo hóa đơn mất giá trị.

Công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế tại Chi cục Thuế huyện Sông Hinh cần cải tiến những điểm gì?

Giai đoạn 2014 - 2016, Chi cục duy trì phát thanh chuyên mục thuế 2 lần/tháng và giải đáp trực tiếp cho 140 lượt người. Tuy nhiên, nội dung còn dàn trải, chưa phân loại theo nhóm đối tượng nộp thuế và thiếu các buổi tập huấn chuyên sâu riêng biệt về chính sách thuế thu nhập cá nhân cho đồng bào địa phương.

Kết luận

  • Luận văn phản ánh bức tranh toàn cảnh về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Chi cục Thuế huyện Sông Hinh giai đoạn 2014 - 2016 với số thu tăng từ 1.864,75 triệu đồng lên 3.255,52 triệu đồng.
  • Phân tích rõ nét sự bứt phá của thuế chuyển nhượng bất động sản (đạt 1.846,20 triệu đồng năm 2016) song hành với sự suy giảm của thuế đầu tư vốn (giảm xuống 550,70 triệu đồng).
  • Chỉ rõ điểm nghẽn về nợ đọng thuế bùng phát lên 324,55 triệu đồng với 277 người nộp thuế và hạn chế về nhân lực kiểm tra khi chỉ có 3 cán bộ chuyên trách.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với ứng dụng công nghệ thông tin TMS, đẩy mạnh cưỡng chế nợ và tăng cường liên kết liên ngành.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc giúp nâng cao hiệu lực quản lý tài chính công tại các địa bàn miền núi trong tiến trình hiện đại hóa ngành thuế.

Đóng góp cốt lõi của công trình là cung cấp hệ thống giải pháp gắn chặt với đặc thù kinh tế - xã hội địa phương, vừa hỗ trợ chống thất thu ngân sách, vừa đảm bảo công bằng xã hội. Các bước tiếp theo cần tập trung hoàn thiện cơ chế chia sẻ thông tin liên ngành và nâng cao kỹ năng kiểm tra thuế điện tử trong giai đoạn 2019 - 2020. Bạn đọc quan tâm có thể khai thác toàn văn nghiên cứu để ứng dụng vào công tác hoạch định và thực thi chính sách quản lý thuế tại địa bàn cơ sở.