Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO GẮN VỚI SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm nhân lực và nguồn nhân lực Nhân lực: Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Nói cách khác, nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động. Nhân lực có ảnh hưởng rất lớn đến trình độ quản lý và trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh, nhân lực là yếu tố năng động, tích cực của mỗi quá trình sản xuất kinh doanh và hoạt động xã hội. [2] Nguồn nhân lực xã hội: là những năng lực về thể chất và trí tuệ để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ cho xã hội hay còn có cách định nghĩa khác, là toàn bộ số lượng người có thể làm việc khi cần thiết. Như vậy, nói về nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là nói về số lượng con người mà là tổng hoà các năng lực (khía cạnh thể chất và trình độ, kỹ năng, khả năng đáp ứng nhu cầu, nhân cách) của những người có thể làm việc.
Lực lượng lao động: là một bộ phận dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định, có khả năng lao động (ở nước ta nam từ độ tuổi 15 - 60 và nữ từ 15 - 55 và kéo dài từ 5 năm đến 10 năm đối với những người có trình độ từ tiến sỹ trở lên) có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. Nguồn nhân lực của xã hội thể hiện tiềm năng của một quốc gia về con người, kể cả những người hiện tại chưa có việc làm, thất nghiệp và trẻ em trong các trường học. Nguồn nhân lực của tổ chức: là một bộ phận cấu thành nguồn nhân lực xã hội, bao gồm tất cả những ai làm việc cho tổ chức hoặc những người chờ đợi để làm việc cho tổ chức (nguồn dự trữ). 7 Nguồn nhân lực của mỗi tổ chức có những đòi hỏi, yêu cầu riêng tuỳ theo chức năng nhiệm vụ, tính chất công việc của tổ chức đó.
Đây chính là lý do vì sao mỗi tổ chức phải có chiến lược, kế hoạch phát triển, tạo NNL cho chính mình một cách hợp lý. Mặt khác, khi NNL xã hội có thể đáp ứng được yêu cầu của tổ chức, thì tổ chức có thể sử dụng chúng. Cạnh tranh để có được NNL xã hội phù hợp với yêu cầu của tổ chức là xu thế chung của thế giới trong nhiều năm qua và tiếp tục thúc đẩy cạnh tranh trong thời gian tới, dưới nhiều dạng khác nhau, như: cạnh tranh nhân tài, cạnh tranh lao động có tay nghề cao, cạnh tranh lao động có chi phí rẻ,. Khái niệm về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ.
Hiện nay, trên thế giới có nhiều cách hiểu và khái niệm về NNL KH&CN. Do đó, việc tổng hợp và thống nhất các khái niệm sử dụng là rất cần thiết, vì nó giúp xác định đối tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài luận văn. Hiện nay có khái niệm về NNL KH&CN được đưa ra bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO).1 Theo cách tiếp cận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Tổ chức OECD là tên viết tắt của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development), thành lập năm 1961 trên cơ sở Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OEEC) với 20 thành viên sáng lập gồm các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới như Mỹ, Canada và các nước Tây Âu. Hiện OECD có 34 thành viên, hầu hết trong số đó là các quốc gia có thu nhập cao.
Đây là một diễn đàn dành cho các thành viên, hiện là chính phủ của 34 nước kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới cũng như 70 nước không phải là thành viên, cùng nhau bàn bạc, trao đổi kinh nghiệm để giải quyết các vấn đề kinh tế cũng như các vấn đề chung khác. Theo cuốn “Cẩm nang về đo lường NNL KH&CN” của OECD thì nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong các điều kiện sau: - Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định nào đó về một chuyên môn KHCN (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên) hay còn được gọi là trình độ 3 trong hệ giáo dục đào tạo; (Cao đẳng, cử nhân/kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học); 8 - Hoặc không được đào tạo chính thức như đã nói ở trên nhưng làm một nghề trong lĩnh vực khoa học và công nghệ và đòi hỏi trình độ tương đương với một trong các trình độ nêu trên. Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc. [19] Đằng sau khái niệm này là, tuy những người có bằng cấp mà không hoạt động KH&CN, nhưng nếu cần thiết, lúc nào đó vẫn có thể huy động họ vào hoạt động KH&CN như mời vào làm chuyên gia tư vấn nên được coi là nguồn nhân lực cho KH&CN.
Như vậy, "nguồn nhân lực KH&CN" chỉ xem xét về trình độ mà không xem xét đến nghề nghiệp và hoạt động (có hoạt động trong lĩnh vực KH&CN hay không). Một vấn đề nữa là, những người không có trình độ tay nghề nhưng làm việc trong lĩnh vực KH&CN sẽ được đưa vào danh sách NNL KH&CN ngay từ khi họ bắt đầu tham gia làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu KH&CN.2 Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) định nghĩa nhân lực KH&CN chủ yếu theo công việc hiện đang đảm nhận. Theo đó, nhân lực KH&CN (S&T personnel) là "những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ". Hoạt động KHCN, theo UNESCO, là những hoạt động có tính chất hệ thống và liên quan chặt chẽ đến tạo ra, phát triển, phổ biến, áp dụng kiến thức KH&CN trong mọi lĩnh vực KH&CN.
Hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động nghiên cứu triển khai, giáo dục và đào tạo KH&CN và các dịch vụ KH&CN. Dịch vụ KH&CN bao gồm các hoạt động KH&CN của thư viện và bảo tàng, dịch và hiệu đính tài liệu KH&CN, điều tra, thăm dò, thu thập số liệu về các hiện tượng KTXH, tiêu chuẩn, chất lượng, dịch vụ tư vấn và lấy ý kiến khách hàng, các hoạt động patent và bản quyền của các cơ quan công cộng. Các nhà khoa học là kĩ sư: là những người làm trong các lĩnh vực sử dụng hay tạo ra kiến thức khoa học hoặc các nguyên lý kỹ nghệ và công nghệ, nghĩa là những người được đào tạo về KH&CN và làm nghề về hoạt động KH&CN, những nhà quản lý cấp cao và những người trực tiếp điều hành các hoạt động KH&CN 9 (đối với lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, các nhà khoa học là những nhà nghiên cứu, các trợ lý nghiên cứu trong cả lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn). - Các kỹ thuật viên: bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực KH&CN; tham gia vào NC&PT bằng việc thực hiện những nhiệm vụ KH&CN có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của các cán bộ nghiên cứu; - Nhân viên hỗ trợ: bao gồm những người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính văn phòng tham gia vào các nhiệm vụ NC&PT.
Trong nhóm này bao gồm cả những người làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính trực tiếp phục vụ công việc NC&PT; Như vậy, theo quan điểm của UNESCO, thì nhân lực KH&CN là toàn bộ những người đang tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN trong các cơ quan, tổ chức và được trả lương, tiền công. * Khái niệm nhân lực và nguồn nhân lực khoa học và công nghệ áp dụng trong luận văn Có sự khác biệt về cách tiếp cận của OECD và UNESCO trong định nghĩa NNL KH&CN. Cách tiếp cận của UNESCO chỉ giới hạn ở những người trực tiếp làm việc trong lĩnh vực KH&CN, trực tiếp tham gia hoạt động KH&CN với mục đích để xác định đối tượng để xây dựng chính sách sử dụng và bồi dưỡng đào tạo phục vụ cho lĩnh vực KH&CN. Trong khi đó, cách tiếp cận của OECD là dựa vào kết quả đầu ra của đào tạo và nhằm xác định mối quan hệ cung – cầu và cân đối cung cầu về NNL KH&CN trong toàn xã hội.
Cách tiếp cận này cũng được nhiều nước trên thế giới áp dụng để phục vụ cho công tác thống kê nguồn lực KH&CN, trong đó có các nước ASEAN. Trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng cách tiếp cận của OECD để xác định khách thể nghiên cứu, đó là những người có trình độ từ cao đẳng trở lên tốt nghiệp các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Quan niệm về gắn đào tạo với sử dụng nguồn nhân lực khoa học công nghệ Đào tạo gắn với nhu cầu sử dụng lao động từ lâu đã được Đảng và Nhà nước đề cập đến để hệ thống giáo dục triển khai thực hiện, nhất là từ khi chuyển đổi cơ chế từ tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - 1986 đề ra). Đổi mới giáo dục cũng phải tuân theo một số quy luật của cơ chế thị trường, trong đó có quy luật cung - cầu nguồn lực lao động đáp ứng nhu cầu xã hội.
Nhiều Văn kiện của Đảng và Nhà nước đã nêu, ở đây đề cập đến: "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới và phát triển nhanh giáo dục và đào tạo; phát triển và nâng cao chất lượng NNL đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề. Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và nhà nước để phát triển NNL theo nhu cầu xã hội.