Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đổi mới sáng tạo được xem là động lực sống còn thúc đẩy năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo Toàn cầu (GII) năm 2017, Việt Nam đã tăng 12 bậc lên vị trí 47/127 quốc gia, khẳng định quyết tâm cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 19/NQ-CP và Quyết định 844/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tại tỉnh Nghệ An – trung tâm kinh tế khu vực Bắc Trung Bộ, khối doanh nghiệp đóng vai trò trụ cột khi đóng góp khoảng 60% tổng thu ngân sách toàn tỉnh, với hơn 16.000 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và tạo việc làm cho hơn 177.000 lao động.

Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN), chiếm trên 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Các đơn vị này đang đối mặt với nhiều rào cản lớn về năng lực đổi mới sáng tạo như thiếu hụt nguồn vốn đầu tư, công nghệ sản xuất còn lạc hậu, trình độ nhân lực hạn chế và mối liên kết chuỗi giá trị còn lỏng lẻo. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đánh giá toàn diện thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo của các DNVVN trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2012 - 5/2017, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và có tính khả thi cao nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp đến năm 2025. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học giúp chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ, đồng thời hỗ trợ các DNVVN tối ưu hóa mô hình quản trị và gia tăng tỷ trọng đóng góp vào GRDP của tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng hướng dẫn Oslo Manual của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2005) kết hợp với các lý thuyết hiện đại về quản trị tri thức và năng lực công nghệ. Theo OECD, đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp được cấu thành từ 4 loại hình cơ bản:

  1. Đổi mới sản phẩm: Việc đưa ra thị trường hàng hóa hoặc dịch vụ mới, hoặc cải tiến đáng kể về đặc tính kỹ thuật, thành phần vật liệu và tính thân thiện với người dùng.
  2. Đổi mới quy trình: Việc áp dụng các phương pháp sản xuất, phân phối hoặc cung ứng dịch vụ mới hoặc cải tiến đáng kể thông qua thay đổi kỹ thuật, thiết bị và phần mềm.
  3. Đổi mới tiếp thị (Marketing): Việc triển khai các phương pháp tiếp thị mới, bao gồm thay đổi thiết kế bao bì, định vị kênh bán hàng, xúc tiến thương mại và chiến lược giá.
  4. Đổi mới tổ chức: Việc áp dụng các phương pháp mới trong hoạt động kinh doanh, tổ chức nơi làm việc và quan hệ đối ngoại của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, nghiên cứu kế thừa quan điểm của Romijn & Albaladejo (2002) và Chen (2009) về năng lực đổi mới sáng tạo, xem đây là tập hợp kiến thức, kỹ năng và cơ chế tổ chức cho phép doanh nghiệp tiếp thu, làm chủ và biến đổi tri thức thành giá trị gia tăng. Bốn quỹ đạo đổi mới sáng tạo (dựa vào khoa học mũi nhọn, đa dạng hóa, nâng cấp công nghệ và dựa vào dự án) được vận dụng để phân loại và định vị năng lực cạnh tranh của DNVVN theo các tiêu chí phân định quy mô doanh nghiệp của Luật Hỗ trợ DNVVN năm 2017 và Nghị định 56/2009/NĐ-CP (với các tiêu chí nguồn vốn dưới 100 tỷ đồng hoặc số lao động dưới 200 người).

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong khung thời gian từ năm 2012 đến tháng 5/2017.

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Được tổng hợp từ các báo cáo thống kê chính thức của Cục Thống kê tỉnh Nghệ An, Cục Thuế tỉnh Nghệ An, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An, cùng các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ (Nghị quyết 19/NQ-CP, Nghị quyết 35/NQ-CP). Các chỉ số tài chính giai đoạn 2012–2015 cho thấy tổng thu ngân sách từ khối doanh nghiệp tăng từ 5.300 tỷ đồng lên 10.034 tỷ đồng.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp và quy mô mẫu: Tác giả thực hiện khảo sát điều tra trên mẫu gồm 185 doanh nghiệp nhỏ và vừa đang hoạt động tại Nghệ An. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng dựa trên cơ cấu ngành nghề thực tế của tỉnh: lĩnh vực thương mại - dịch vụ chiếm tỷ trọng 32,19%, xây dựng chiếm 24%, công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản chiếm 12,64%, và chế biến nông lâm nghiệp chiếm 5,4%.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích so sánh đối chuẩn (benchmarking) với các địa phương lân cận như Thanh Hóa (địa phương có 18 doanh nghiệp KH&CN) và Hà Tĩnh (địa phương có 126 hợp đồng chuyển giao công nghệ trị giá 821 tỷ đồng). Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm phản ánh khách quan bức tranh toàn cảnh, làm rõ các điểm nghẽn đặc thù của doanh nghiệp Nghệ An trong mối tương quan với vùng kinh tế Bắc Trung Bộ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra 4 phát hiện cốt lõi về năng lực đổi mới sáng tạo của DNVVN tỉnh Nghệ An:

  1. Quy mô doanh nghiệp tăng trưởng nhưng năng lực đổi mới sản phẩm còn dè dặt: Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tăng trưởng bình quân 10,46%/năm, doanh thu bình quân tăng 17,59%/năm trong giai đoạn 2010–2015. Tuy nhiên, hoạt động đổi mới sản phẩm chủ yếu dừng lại ở mức cải tiến nhỏ lẻ (như thay đổi vật liệu từ gạch đất nung sang bê tông nhẹ, thay cửa gỗ bằng kính cường lực trong xây dựng). Tỷ lệ doanh nghiệp dám đầu tư tạo ra sản phẩm mới hoàn toàn ước tính dưới 8% do lo ngại rủi ro thị trường và thiếu kinh phí thử nghiệm.
  2. Trình độ công nghệ và đổi mới quy trình còn ở mức trung bình: Hoạt động đổi mới quy trình sản xuất chưa có sự bứt phá. Tỉnh Nghệ An hiện đang ưu tiên nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cho 6 lĩnh vực trọng điểm với 64 đề tài, dự án đang triển khai. Dù vậy, phần lớn DNVVN vẫn vận hành máy móc công nghệ cũ, việc áp dụng hệ thống kiểm soát chất lượng tiên tiến và tự động hóa chưa đồng đều.
  3. Hoạt động R&D nội bộ rất khiêm tốn và thiếu vắng liên kết viện - trường: Khảo sát cho thấy bức tranh chung tương đồng với số liệu toàn quốc, nơi chỉ có 6,23% doanh nghiệp thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Trong số các doanh nghiệp có R&D, có tới 60,6% là tự nghiên cứu thủ công, 29,7% kết hợp thuê ngoài và chỉ 9,3% thuê ngoài hoàn toàn. Tại Nghệ An, chi tiêu cho hoạt động R&D trong DNVVN chỉ chiếm chưa đầy 1% tổng doanh thu hàng năm.
  4. Đổi mới tiếp thị và tổ chức chưa được chuyên nghiệp hóa: Tỷ trọng doanh nghiệp trong nhóm ngành thương mại - dịch vụ chiếm cao nhất (32,19%) nhưng việc ứng dụng thương mại điện tử, đa dạng hóa kênh phân phối số và đổi mới nhận diện thương hiệu còn hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp hoạt động theo mô hình quản trị gia đình, phong cách điều hành mang tính tập trung cao, thiếu cơ chế khuyến khích sáng kiến từ người lao động.
Chỉ tiêu phân tích DNVVN Tỉnh Nghệ An Mức bình quân / Địa phương đối chuẩn
Tốc độ tăng trưởng số lượng DN 10,46%/năm 8,5% - 10,0%/năm
Tăng trưởng doanh thu bình quân 17,59%/năm 12,0% - 15,0%/năm
Tỷ lệ DN có hoạt động R&D chính thức Khoảng 5,8% 6,23% (Bình quân cả nước)
Số lượng DN Khoa học & Công nghệ Còn rất hạn chế (<5 DN) Thanh Hóa: 18 DN; Hà Tĩnh: 3 DN
Đóng góp vào ngân sách địa phương ~60% tổng thu ngân sách Đạt 10.034 tỷ VNĐ (2015)
   CƠ CẤU NGÀNH NGHỀ DOANH NGHIỆP TỈNH NGHỆ AN
   =============================================
   [32.19%] Thương mại & Dịch vụ  ████████████████
   [24.00%] Xây dựng & Tư vấn     ████████████
   [12.64%] Khai khoáng & CBKS   ██████
   [ 5.40%] Nông - Lâm nghiệp    ███
   [ 0.26%] Thủy hải sản         ▌
   [25.51%] Các lĩnh vực khác    █████████████

Thảo luận kết quả

Thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo khiêm tốn của DNVVN tại Nghệ An bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về mặt chủ quan, nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp về vai trò của công nghệ lõi chưa toàn diện; tâm lý sợ rủi ro khiến các nhà quản trị ưu tiên các giải pháp thương mại ngắn hạn thay vì đầu tư dài hạn cho R&D. Về mặt khách quan, môi trường kinh doanh tại địa phương chưa tạo đủ áp lực cạnh tranh gay gắt buộc doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để sinh tồn.

Khi so sánh với kinh nghiệm của tỉnh Thanh Hóa – địa phương đã phát triển được 18 doanh nghiệp KH&CN thông qua chương trình hỗ trợ giai đoạn 2017–2020, Nghệ An còn thiếu các cơ chế hỗ trợ trực tiếp và các trung tâm ươm tạo công nghệ chuyên biệt. Bên cạnh đó, các chính sách ưu đãi của Nhà nước về thuế thu nhập doanh nghiệp và miễn giảm tiền thuê đất (như Thông tư liên tịch 17/2012/TTLT-BKHCN-BTC-BNV) còn gặp nhiều vướng mắc trong khâu triển khai thực tế do thủ tục hành chính phức tạp. Các dữ liệu về cơ cấu ngành nghề được trực quan hóa qua biểu đồ hình tròn trong luận văn phản ánh sự thiên lệch lớn khi tỷ trọng chế biến thủy hải sản chỉ đạt 0,26%, trong khi nông - lâm nghiệp chiếm 5,4%, cho thấy tiềm năng gia tăng giá trị chuỗi sản phẩm địa phương thông qua đổi mới quy trình công nghệ chế biến còn rất lớn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tạo bước đột phá về năng lực đổi mới sáng tạo cho DNVVN trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2018–2025, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế chính sách ưu đãi: Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An và Sở Khoa học và Công nghệ cần cụ thể hóa các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hỗ trợ DNVVN 2017. Rút ngắn thời gian xử lý thủ tục chứng nhận doanh nghiệp KH&CN và thủ tục ưu đãi miễn giảm tiền thuê đất xuống dưới 30 ngày làm việc. Đặt mục tiêu hỗ trợ ươm tạo và thành lập mới từ 15 đến 20 doanh nghiệp KH&CN trên địa bàn tỉnh đến năm 2025.
  2. Tăng cường đòn bẩy tài chính cho đổi mới sản phẩm và công nghệ: Thành lập Quỹ Đổi mới Công nghệ tỉnh Nghệ An với cơ chế tài trợ vốn mồi và bù lãi suất từ 2% đến 3%/năm cho các DNVVN vay vốn thương mại để đổi mới máy móc, thiết bị. Khuyến khích doanh nghiệp trích lập quỹ phát triển KH&CN nội bộ (tối đa 10% thu nhập tính thuế) nhằm chủ động tài trợ cho các đề án cải tiến kỹ thuật.
  3. Thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị, đổi mới marketing và quản trị tổ chức: Xây dựng Sàn Giao dịch Công nghệ và Thiết bị tỉnh Nghệ An nhằm kết nối cung - cầu công nghệ giữa các viện nghiên cứu, trường đại học (như Đại học Vinh) với doanh nghiệp. Hỗ trợ 100% chi phí gian hàng trực tuyến và tư vấn chiến lược marketing số cho các sản phẩm nông sản, dược liệu đặc sản của tỉnh.
  4. Phát triển nguồn nhân lực và văn hóa đổi mới sáng tạo: Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh tổ chức định kỳ các khóa đào tạo về quản trị tri thức, quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO và kỹ năng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho ít nhất 500 lượt cán bộ quản lý DNVVN mỗi năm, gắn liền với các mục tiêu của Đề án 844/QĐ-TTg.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học và ứng dụng thực tiễn giá trị cao dành cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương: Lãnh đạo UBND tỉnh Nghệ An, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương có thể khai thác các luận cứ và số liệu thực chứng để xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ban hành các đề án phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo sát với điều kiện thực tế.
  2. Chủ doanh nghiệp và giám đốc điều hành DNVVN: Cung cấp khung tự đánh giá năng lực công nghệ và quy trình theo chuẩn mực OECD, giúp các nhà quản trị nhận diện điểm nghẽn, từ đó tái cấu trúc bộ máy quản lý, áp dụng phương pháp marketing hiện đại và hoạch định kế hoạch đổi mới sản phẩm an toàn, tiết kiệm chi phí.
  3. Các trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức trung gian KH&CN: Giảng viên, nhà nghiên cứu tại các trường đại học khối kinh tế - kỹ thuật có thể sử dụng luận văn làm cơ sở thiết kế các chương trình chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn sản xuất kinh doanh của địa phương.
  4. Học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý KH&CN, Quản trị Kinh doanh: Tài liệu hỗ trợ phương pháp luận nghiên cứu thực chứng, phương pháp xử lý số liệu thống kê kinh tế cấp tỉnh và cách tiếp cận đa chiều về năng lực đổi mới sáng tạo trong khối DNVVN tại các thị trường mới nổi.

Câu hỏi thường gặp

1. Bốn trụ cột đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo theo chuẩn OECD gồm những gì?

Theo hướng dẫn Oslo Manual của OECD (2005), 4 trụ cột đánh giá gồm: đổi mới sản phẩm (tính năng, vật liệu mới), đổi mới quy trình (công nghệ, thiết bị sản xuất), đổi mới tiếp thị (kênh bán hàng, định giá, bao bì) và đổi mới tổ chức (mô hình điều hành, quan hệ đối tác). Sự phối hợp đồng bộ cả 4 yếu tố này quyết định sức cạnh tranh toàn diện của doanh nghiệp.

2. Thực trạng hoạt động R&D tại các DNVVN tỉnh Nghệ An hiện nay ra sao?

Hoạt động R&D tại các DNVVN Nghệ An còn ở mức khiêm tốn. Theo thống kê thực tế, chỉ có khoảng 5,8% đến 6,23% doanh nghiệp thực hiện R&D chính thức, với hơn 60% trong số đó là tự mày mò nghiên cứu nội bộ, chi phí đầu tư cho R&D thường chiếm dưới 1% tổng doanh thu hàng năm.

3. Đâu là rào cản lớn nhất khiến DNVVN Nghệ An khó đạt chứng nhận Doanh nghiệp KH&CN?

Rào cản lớn nhất nằm ở điều kiện quy định doanh thu từ sản phẩm hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học phải đạt tỷ lệ theo chuẩn quy định của pháp luật. Đa số DNVVN mới chuyển giao công nghệ hoặc mới thành lập chưa thể đạt ngay mức doanh thu này, dẫn đến việc không đủ điều kiện hưởng các gói ưu đãi thuế và đất đai.

4. Tỉnh Nghệ An có thể học hỏi bài học gì từ Thanh Hóa và Hà Tĩnh?

Nghệ An có thể học tập Thanh Hóa trong việc phê duyệt chương trình chuyên biệt phát triển doanh nghiệp KH&CN để thành lập 18 doanh nghiệp KH&CN thành công, đồng thời học hỏi Hà Tĩnh trong việc thúc đẩy thị trường công nghệ với 126 hợp đồng chuyển giao đạt giá trị hơn 821 tỷ đồng thông qua các hoạt động kết nối cung cầu.

5. DNVVN có nguồn vốn hạn chế nên bắt đầu đổi mới sáng tạo từ khâu nào?

Doanh nghiệp nhỏ và vừa nên bắt đầu từ đổi mới tổ chức và đổi mới tiếp thị vì hai hoạt động này đòi hỏi chi phí đầu tư thấp nhưng mang lại hiệu quả chuyển đổi nhanh. Sau đó, doanh nghiệp từng bước tiến hành đổi mới quy trình bằng việc cải tiến các công đoạn nhỏ và ứng dụng vật liệu mới thay thế để tối ưu hóa chi phí sản xuất.

Kết luận

  • Đổi mới sáng tạo là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của hơn 16.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
  • Năng lực đổi mới sáng tạo của DNVVN Nghệ An giai đoạn 2012–2017 còn nhiều hạn chế về trình độ công nghệ, tỷ lệ đầu tư cho R&D và mức độ liên kết chuỗi giá trị.
  • Việc nâng cấp năng lực cạnh tranh đòi hỏi phải tiếp cận toàn diện theo 4 trụ cột của OECD: sản phẩm, quy trình, tiếp thị và mô hình tổ chức quản trị tri thức.
  • Sự kết hợp đồng bộ giữa chính sách hỗ trợ của UBND tỉnh Nghệ An và sự chủ động đổi mới nội tại của doanh nghiệp là chìa khóa then chốt cho giai đoạn 2018–2025.
  • Thiết lập sàn giao dịch công nghệ, hoàn thiện quỹ phát triển KH&CN và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là các bước đi hành động mang tính đột phá.

Luận văn đã đóng góp hệ thống giải pháp toàn diện cả về mặt lý luận quản lý khoa học công nghệ lẫn thực tiễn quản trị doanh nghiệp địa phương. Để hiện thực hóa mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, các cơ quan ban ngành và cộng đồng doanh nghiệp Nghệ An cần khẩn trương phối hợp triển khai các cơ chế thử nghiệm chính sách và đẩy mạnh liên kết đào tạo ngay hôm nay.