phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Nghệ An. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm doanh nghiệp và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp.
Khái niệm doanh nghiệp và doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên trị trƣờng. Căn cứ vào quy định này thì doanh nghiệp có những đặc điểm sau: là đơn vị kinh tế, hoạt động trên thƣơng trƣờng, có trụ sở giao dịch ổn định, có tài sản; đã đƣợc đăng ký kinh doanh; có hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi (Luật doanh nghiệp, 2014). Nhƣ vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số doanh nghiệp có các hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên). Theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (2017), Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 ngƣời và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; Tổng doanh thu của năm trƣớc liền kề không quá 300 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp 6 nhỏ và doanh nghiệp vừa đƣợc xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thƣơng mại và dịch vụ. Theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ, doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc quy đinh nhƣ sau: Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ Lĩnh vực Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao động nguồn vốn động nguồn vốn động 1.
Nông, lâm 10 ngƣời 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 từ trên nghiệp và thủy trở trở xuống ngƣời đến tỷ đồng đến 200 sản xuống 200 ngƣời 100 tỷ đồng ngƣời đến 300 ngƣời 2. Công nghiệp 10 ngƣời 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 từ trên và xây dựng trở trở xuống ngƣời đến tỷ đồng đến 200 xuống 200 ngƣời 100 tỷ đồng ngƣời đến 300 ngƣời 3. Thƣơng mại 10 ngƣời 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 từ trên và dịch vụ trở trở xuống ngƣời đến tỷ đồng đến 50 ngƣời xuống 50 ngƣời 50 tỷ đồng đến 100 ngƣời Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ b. Khái niệm đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp Đổi mới sáng tạo (Innovation) đã trở thành động lực chính của sự vững mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh quốc gia.
Hầu hết mọi ngƣời đều cho 7 rằng đổi mới chỉ mang khía cạnh công nghệ tạo ra các sản phẩm mới nổi bật. Một số khác cho rằng đổi mới chỉ gắn liền với các hoạt động R&D đƣợc tiến hành tại các trƣờng đại học, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, hay các doanh nghiệp. Quan niệm trên còn có những hạn chế bởi đổi mới sáng tạo bao hàm ý nghĩa rộng hơn nhiều. Theo định nghĩa của OECD (2005), đổi mới sáng tạo là "thực hiện một sản phẩm mới hay một sự cải tiến đáng kể (đối với một loại hàng hóa hay dịch vụ cụ thể), một quy trình, phƣơng pháp marketing mới, hay một phƣơng pháp tổ chức mới trong thực tiễn kinh doanh, tổ chức nơi làm việc, hay các mối quan hệ đối ngoại".
Điểm then chốt ở đây là, đổi mới có thể mang cả khía cạnh công nghệ và phi công nghệ. Trên thực tế, đổi mới "phi công nghệ" ít nhất cũng có tầm quan trọng nhƣ các đổi mới công nghệ, mặc dù các hoạt động đổi mới thƣờng có giá trị nhất khi chúng phối hợp cả các thành phần công nghệ lẫn phi công nghệ. Ngoài ra, trong các lĩnh vực phi thƣơng mại, đổi mới cũng có tầm quan trọng tƣơng đƣơng, nếu không nói là hơn, so với lĩnh vực thƣơng mại. Một số công trình nghiên cứu về hoạt động đổi mới sáng tạo tại các công ty hàng đầu thế giới cho thấy, các nỗ lực đổi mới chủ yếu chú trọng vào các đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm hay dịch vụ có thể dễ dàng sao chép hay bắt chƣớc, dẫn đến sự thúc ép thƣơng mại hóa, trong khi các hoạt động đổi mới về mô hình kinh doanh hay các chuỗi giá trị lại bền vững hơn và khó bắt chƣớc.
Xét trên toàn bộ nền kinh tế, Oslo Manual (2005) cho rằng, đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế hiện nay diễn ra ít nhất là theo 4 quỹ đạo khác nhau, mỗi quỹ đạo đều cần đến sự hỗ trợ của Chính phủ. Quỹ đạo dựa vào khoa học mũi nhọn Quỹ đạo này bao gồm những ngành công nghiệp, chẳng hạn nhƣ công nghiệp sinh học và một số bộ phận của công nghệ thông tin. Nó phụ thuộc 8 vào nghiên cứu mũi nhọn ở các trƣờng đại học, những nghiên cứu này thƣờng đƣợc cung cấp patent và giấy phép sử dụng, đôi khi cho các doanh nghiệp mới khỏi sự dựa vào nguồn vốn mạo hiểm. Những doanh nghiệp nhỏ mới khởi sự nào đi theo quỹ đạo đổi mới này có thể cần sự hỗ trợ về chuyển giao công nghệ, đƣợc tiếp cận với nguồn vốn mạo hiểm; đƣợc tiếp cận với các nhà khoa học và kỹ sƣ có trình độ cao.
Những doanh nghiệp lớn nếu đi theo quỹ đạo này có thể cần đến sự hỗ trợ để có thêm kinh phí phục vụ cho những nghiên cứu cơ bản, mang tính then chối đối với ngành của họ, nhƣng lại quá rủi ro, hoặc quá mới mẻ để đủ sức thuyết phục tính doanh nghiệp đơn lẻ đầu tƣ vào. Quỹ đạo đa dạng hoá Bao hàm việc sử dụng những công nghệ hiện có để tạo ra các cơ hội thị trƣờng mới hoặc là ở các doanh nghiệp hiện có, hoặc là ở những doanh nghiệp mới. Ví dụ, trƣờng Đại học Akron đã tìm cách giúp đỡ các doanh nghiệp ở Akrow tìm ra những ứng dụng mới cho công nghệ polymer. Một công nghệ cốt lõi của ngành chế tạo lốp xe ở khu vực này.
Ở quỹ đạo này, những nhu cầu chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp là chủ yếu và không liên quan đến khoa học mũi nhọn. Quỹ đạo nâng cấp Quỹ đạo này thƣờng đƣợc áp dụng bởi những doanh nghiệp ở những ngành đa trƣởng thành, không phụ thuộc nhiều vào khoa học mũi nhọn. Nó bao hàm những đổi mới thƣờng xuyên, thƣờng là mang tính gia tăng đối với các sản phẩm/quy trình/phƣơng pháp tổ chức sản xuất. Những doanh nghiệp nào đi theo quỹ đạo đổi mới này có thể cần đến sự hỗ trợ, ví dụ nhƣ, về hiện đại hoá công nghiệp, tái tổ chức công việc và đào tạo công nhân để thực hiện những công việc đó.
Trong trƣờng hợp này, nghiên cứu của trƣờng đại học không có tầm quan trọng đặc biệt. Sự hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh nghiệp 9 chính là việc cần hơn cả. Ngoài ra, ở nhiều doanh nghiệp và các ngành này thƣờng vẫn còn thiếu các tiêu chuẩn và khuyến khích kỹ thuật, làm hạn chế việc áp dụng công nghệ, thƣờng là công nghệ thông tin và phần mềm. Quỹ đạo đổi mới dựa vào dự án Những doanh nghiệp và ngành đi theo quỹ đạo đổi mới dựa vào dự án là những chủ thể đƣa ra những dịch vụ phù hợp với đối tƣợng tiêu dùng, đòi hỏi những giải pháp sáng tạo cho các vấn đề đặt ra (mặc dù những giải pháp này thƣờng đi theo hình thức tiêu chuẩn).
Những hoạt động đa dạng nhƣ xây dựng, dịch vụ tài chính tinh xảo, điều trị y học tiên tiến, nghệ thuật và giải trí về quảng cáo thƣờng đi theo quỹ đạo đổi mới này. Một dự án, có thể là một dự án xây dựng hay một dịch vụ tài chính, hoặc một buổi hoà nhạc, là đơn vị sản xuất cơ bản. Các doanh nghiệp và công nhân thƣờng không có quan hệ ổn định lâu dài, Nhƣng khả năng mà các doanh nghiệp biết tập hợp những ngƣời công nhân có kỹ năng, giàu sức sáng tạo đó lại trong thời gian thực hiện dự án, là hết sức to lớn. Những doanh nghiệp đó có thể cần đến sự hỗ trợ để tiếp cận với những ngƣời công nhân đó, đồng thời ngƣời công nhân cũng có thể cần đƣợc hỗ trợ để chuyển từ dự án này sang dự án khác và duy trì sự liên tục về thu nhập và lợi ích giữa các dự án.
Để đạt đƣợc hiệu quả cao nhất, hoạt động đổi mới của các nƣớc cần bám sát ở tất cả các mắt xích trong chuỗi giá trị đổi mới, trong tất cả các loại hình đổi mới và dọc theo tất cả các giai đoạn phát triển. Một trong những sai lầm lớn nhất các nƣớc có thể mắc phải trong các chiến lƣợc đổi mới của mình, đó là họ định nghĩa đổi mới theo nghĩa quá hẹp. Trên thực tế, nhiều quốc gia, doanh nghiệp, chú trọng các hoạt động đổi mới chỉ vào các sản phẩm, và thậm chí là chỉ tập trung vào loại hình sản phẩm có thể buôn bán đƣợc (tức là có thể xuất khẩu) trên các thị trƣờng quốc tế. Một số nƣớc khác 10 lại chỉ tập trung vào việc có đƣợc quyền sở hữu trí tuệ về một sản phẩm đổi mới để sau đó phát triển, chế tạo và xuất khẩu sản phẩm đó.
Tóm lại, đổi mới mới sáng tạo là việc đƣa ra một sản phẩm, quá trình, phƣơng pháp tổ chức hoặc phƣơng pháp tiếp thị (Marketing) mới hoặc đƣợc cải tiến bởi doanh nghiệp của bạn. Đổi mới sáng tạo phải là mới đối với doanh nghiệp của bạn, mặc dù ban đầu nó có thể đƣợc phát triển bởi doanh nghiệp khác.