Chương 1: Tổng quan vè tăng cường năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm Chương 2: Cơ sở lí luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm Chương 3: Phân tích thực trạng tăng cường năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm bóng đèn LED của Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông sang thị trường Brazil Chương 4: Định hướng và giải pháp tăng cường năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm bóng đèn LED sang thị trường Brazil của Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông 5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM 2.1 Một số khái niệm cơ bản: 2.1 Khái niệm xuất khẩu: Hoạt động xuất khẩu hàng hóa là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong việc phân công lao động quốc tế, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao mức sống của người dân. Có thể hiểu xuất khẩu hàng hóa chính là việc đưa hàng hóa ra thị trường nước ngoài để tiêu thụ nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng nước ngoài.2 Khái niệm cạnh tranh: Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng khá phổ biến, nó được hiểu như là sự ganh đua, đấu tranh giữa các chủ thể nhằm đạt được một mục đích nhất định nào đó.
Tuy nhiên do từng thời kì kinh tế và cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh. Trước đây các nhà nghiên cứu cho rằng cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Trong thời kì chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, dưới chế độ phong kiến và tiền tư bản, cạnh tranh được xem là các 6 hoạt động chèn ép nhau, dùng mọi mưu kế, quyền thế nhằm tạo thế độc tôn trên thị trường. Ngày nay quan điểm cạnh tranh có nhiều thay đổi, nhiều quốc gia cho rằng hàng hóa hay sản phẩm cạnh tranh tốt trên thị trường như là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao mức sống và tăng phúc lợi cho người dân, các doanh nghiệp tạo ra nhiều hàng hóa chất lượng cao, thỏa mãn được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng thì sẽ phát triển.
Do đó, các quốc gia và doanh nghiệp đều cố gắng huy động và sử dụng hợp lý các nguồn lực sản xuất, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa. Cạnh tranh là quy luật tất yếu của sản xuất hàng hóa dịch vụ, đòi hỏi các doanh nghiệp phải kiên trì nâng cao năng suất sản xuất bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến kĩ thuật sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất. Khi một nước trực tiếp tham gia cạnh tranh quốc tế thì tiêu chuẩn về hàng hóa dịch vụ không còn là tiêu cuẩn trong nước mà là tiêu chuẩn quốc tế. Vì vậy các doanh nghiệp trong nước không chỉ phải cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.
Xét theo quan điểm tổng hợp, cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó chủ thể kinh tế ganh đua nhau để dạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất.3 Khái niệm năng lực cạnh tranh sản phẩm: Năng lực cạnh tranh (hay “khả năng cạnh tranh”, “tính cạnh tranh”) là sức mạnh tương đối của một chủ thể kinh tế trong tương quan với các chủ thể kinh tế khác. 7 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó trên cùng một thị trường so với các sản phẩm cùng chủng loại của các doanh nghiệp khác. Một sản phẩm có năng lực cạnh tranh hay không là do thị phần sản phẩm đó trên thị trường lớn hay nhỏ. Thị phần là yếu tố phản ánh sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao, tuy nhiên không thể không nói đến sức mạnh và đặc tính của sản phẩm trên thị trường.
Khi mua sản phẩm, khách hàng quan tâm đến các yếu tố như giá cả, chất lượng, thương hiệu sản phẩm, dịch vụ khách hàng. Một sản phẩm có tính cạnh tranh cao khi có chất lượng vượt trội so với các hàng hóa cùng loại ở cùng một mặt bằng giá, hoặc có đặc tính vượt trội độc đáo riêng. Trước đây quan niệm cạnh tranh về giá cả của sản phẩm được đặt lên hàng đầu. Nhưng trong xu thế hiện nay, chất lượng sản phẩm mới là yếu tố được đưa lên hàng đầu.
Thương hiệu sản phẩm cũng là một yếu tố chủ chốt nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Ta có thể dễ dàng thấy được sản phẩm của một thương hiệu nổi tiếng bao giờ cũng có sức cạnh tranh cao hơn so với các sản phẩm cùng loại chưa có thương hiệu hoặc thương hiệu chưa nổi tiếng.2 Một số lý thuyết liên quan tới cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của sản phẩm 2.1 Vai trò của cạnh tranh: Đối với nền kinh tế: Cạnh tranh làm sống động nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn tăng cường đầu tư theo chiều rộng và chiều sâu, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nhanh nền kinh tế quốc dân. 8 Đối với chủ thể kinh doanh: Bằng sự hấp dẫn từ lợi nhuận của việc đi trước về chất lượng, mẫu mã hàng hóa và áp lực phá sản nếu dừng lại, cạnh tranh buộc các chủ thể kinh tế phải thường xuyên tìm tòi, sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm mới. Cạnh tranh chính là sự sàng lọc mọi mặt, giúp nâng cao trình độ mọi mặt của những người lao động sản xuất, nhất là đội ngũ các nhà quản trị kinh doanh.
Mặt khác, cạnh tranh sẽ đào thải những chủ thể kinh tế không thích ứng được với sự khắc nghiệt của cạnh tranh trên thị trường. Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh tạo ra một áp lực liên tục đối với giá cả sản phẩm, buộc các nhà doanh nghiệp phải đối phó, phản ứng kịp thời và phù hợp với mong muốn của người tiêu dùng về giá cả, chủng loại, mẫu mã, chất lượng hàng hóa và dịch vụ. Thông thường, cạnh tranh làm giá có xu hướng ngày càng giảm, số lượng, chủng loại hàng hóa ngày càng tăng, chất lượng hàng hóa tốt, đa dạng và đáp ứng tốt nhu cầu người tiêu dùng. Vì vậy, cạnh tranh được coi là lực lượng điều tiết trên thị trường, góp phần làm giảm thiểu hiện tượng độc quyền hóa kinh doanh.
Các vai trò khác: - Cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp và nhà nước mở rộng tìm kiếm thị trường, thúc đẩy thực hiện việc liên doanh, liên kết với các đối tác nước ngoài nhằm huy động nguồn vốn, lao động, khoa học kĩ thuật, kinh nghiệm quản lý, hòa nhập thị trường mới. - Cùng với sự tác động của các quy luật kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh đã điều tiết một cách tự phát nền kinh tế trong từng thời kì nhất định. Vận dụng quy luật cạnh tranh, các doanh nghiệp và Nhà nước có điều kiện hoạch định được 9 các chiến lược kinh tế và chiến lược sản xuất kinh doanh một cách khoa học, góp phần nâng cao năng lực trong quản lí vi mô cũng như vĩ mô.2 Các yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm: Năng lực cạnh tranh của sản phẩm chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô, các nhân tố thuộc nội bộ ngành cũng như các yếu tố trong bản thân nội tại doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm 2.1 Các yếu tố vĩ mô: Các yếu tố vĩ mô bao gồm các yếu tố về kinh tế, chính trị – pháp luật, văn hóa – xã hội và môi trường kinh doanh. Các yếu tố kinh tế thuộc môi trường vĩ mô như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái… có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm: - Tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người: nền kinh tế phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao dẫn đến nhu cầu và khả năng tiêu thụ hàng hóa cao.
Một nền kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo cơ hội tốt cho các doanh nghiệp mở rộng kinh doanh, thu hút đầu tư nước ngoài. Từ đó dẫn tới nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. - Lãi suất ngân hàng: lãi suất ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Lãi suất quyết định mức chi phí về vốn và do đó quyết định mức đầu tư.
Nếu lãi suất ngân hàng cho vay cao sẽ dẫn đến chi phí đầu vào tăng lên, giá thành sản phẩm cũng vì thế tăng lên. Do đó năng lực cạnh tranh của hàng hóa sẽ giảm đi nhất là khi đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh về vốn. Ngược lại, nếu lãi suất ngân hàng thấp 10 sẽ làm giảm chi phí đầu vào, giá thành sản phẩm hạ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất và cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường bằng công cụ giá. - Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là sự so sánh về giá trị của đồng tiền trong nước với đồng tiền của quốc gia khác.
Thay đổi tỷ giá hối đoái có tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm đặc biệt đối với các sản phẩm phải nhập khẩu nguyên liệu đầu vào hay các sản phẩm có lợi thế về xuất khẩu. Nếu đồng nội tệ lên giá, sẽ khuyến khích nhập khẩu vì hàng nhập khẩu sẽ giảm và như vậy khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trong nước sẽ bị giảm ngay trên thị trường trong nước; đồng thời xuất khẩu sẽ giảm do sản phẩm trong nước tăng giá. Và ngược lại, khi đồng nội tệ giảm giá thì khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu cũng sẽ tăng lên. Các yếu tố chính trị – pháp luật: được thể hiện ở mức độ ổn định chính trị của quốc gia, cơ sở hành lang pháp lý.