mở đầu trào lưu sử dụng điện thoại duyệt web, kéo theo hàng loạt smartphone cao cấp nền Android đổ bộ vào thị trường trong những năm gần đây. Tiếp đến, iPad ra mắt năm 2010 tạo nên làn sóng dùng máy tính bảng truy cập nội dung số trên mạng, và kết nối 3G chính là ngòi nổ để máy tính bảng tăng trưởng nhanh chóng, “ép” máy tính xách tay lùi dần về “hậu trường”. Hai công nghệ di động 3G phổ biến trên toàn thế giới là UMTS và CDMA2000. UMTS (Universal Mobile Telecommunication System) được chuẩn hóa bởi tổ chức 3GPP, dựa trên nền CDMA băng rộng (W-CDMA), là giải pháp thích hợp cho các nhà mạng sử dụng GSM.
CDMA2000 được phê chuẩn bởi ITU, là thế hệ kế tiếp của chuẩn 2G IS- 95, gồm bộ tiêu chuẩn CDMA2000 1x và CDMA2000 1xEV-DO (các phiên bản Rev. Tại Việt Nam, S-Fone là mạng đầu tiên cung cấp các dịch vụ 3G: xem phim, nghe nhạc theo yêu cầu, Live TV, Mobile Internet… dựa trên nền tảng công nghệ CDMA 2000 1xEV-DO, nhưng chỉ khi ba nhà mạng GSM Vinaphone, Viettel và Mobifone triển khai dịch vụ 3G thì mới nhận được sự quan tâm sâu rộng của người dùng phần đông đang là khách hàng của ba nhà mạng này. Hiện tại cả 3 mạng Viettel, Mobifone và Vinaphone đều đã triển khai công nghệ HSDPA, đôi khi được xem là thuộc thế hệ 3. HSDPA (High-Speed Downlink Packet Access) – Công nghệ truy cập gói đường xuống tốc độ cao, là một bước tiến nhằm nâng cao tốc độ và khả năng của mạng UMTS, được thiết kế cho những ứng dụng truyền tải dữ liệu lớn, tốc độ cao.
Với tốc độ 7,2 Mbit/s của HSDPA, người dùng di động có thể xem phim, nghe nhạc trực tuyến một cách trơn tru với âm thanh chất lượng và hình ảnh sắc nét. Về lý thuyết, HSDPA có thể đạt tốc độ tối đa 21 Mbit/s. Mạng di động thế hệ thứ 4 (4G): Theo định nghĩa của Liên minh Viễn thông Thế giới (ITU), chỉ có các mạng di động không dây LTE-Advanced và 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com WirelessMAN-Advanced (còn được gọi là IEEE 802.16m hay WiMax Release 2) mới đạt chuẩn 4G. Về lý thuyết, mạng 4G hay còn gọi là IMT-Advanced phải đạt tốc độ truyền tải 100 Mbit/s (di chuyển) và 1 Gbit/s (đứng yên), cho phép nhà mạng triển khai các dịch vụ hình ảnh động cùng âm thanh chất lượng cao trên nền hệ thống IP cũng như IPv6.
Định nghĩa kỹ thuật của ITU đã lật tẩy chiêu trò tiếp thị dịch vụ “4G” của các nhà mạng dựa trên LTE (Long Term Evolution) và Wimax đều là những công nghệ chưa đạt tới chuẩn 4G. Chính vì thế thời gian gần đây chúng ta thường được nghe nói tới mạng 4G LTE, cho dù tốc độ cao hơn nhiều so với các mạng 3G nhưng vẫn chưa thực sự là 4G. WiMax và LTE là bước tiến công nghệ quan trọng từ 3G, bởi vì chúng được thiết kế từ đầu cho dữ liệu, sử dụng mạng IP. Tuy nhiên, những đề xuất WiMax và LTE, những năm trước đây, cho thế hệ di động mới thường xuyên gây tranh cãi với những nghi vấn về các tiêu chuẩn và nhãn "4G".
LTE phát triển từ các chuẩn GSM/UMTS, được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các nhà khai thác di động có uy tín, trong khi WiMax đến từ thế giới mạng dữ liệu, được hậu thuẫn mạnh mẽ từ Intel. Nhưng, giờ đây WiMax hầu như đã đi vào ngõ cụt vì không được thị trường ủng hộ [15]. Sự ra đời của GSM còn phá vỡ thế độc quyền của hệ thống thông tin di động từng quốc gia, làm giảm giá các thiết bị hệ thống, máy điện thoại và giá cả các dịch vụ khác. Ngoài ra, những lợi ích mà mạng thông tin di động toàn cầu GSM mang lại là rất lớn, mang lại chất lượng cuộc gọi cao.
Cấu trúc của mạng thông tin di động GSM Nguồn: VNPT Bắc Ninh (2014) Đặc điểm dịch vụ di động - Dịch vụ di động là sản phẩm truyền thông đưa tin tức, do vậy nó bị chi phối bởi những đặc điểm sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Dịch vụ di động có 3 nội dung cơ bản, trước hết là đăng ký hoà mạng, thứ hai là thuê bao, thứ 3 là liên lạc (đàm thoại). - Dịch vụ di động mang lại hiệu quả liên lạc mọi nơi, mọi lúc. - Dịch vụ di động có tính bảo mật cao vì thông tin trong lúc truyền đưa đã được mã hoá. - Giá thành sản xuất ra một đơn vị giá trị sử dụng dịch vụ di động ở những địa phương khác nhau thì khác nhau, dịch vụ được tạo ra ở đâu thì được bán tại đó, không thể sản xuất ở nơi có chi phí thấp bán ở nơi có giá bán cao.
- Dịch vụ di động tiêu thụ ngay trong quá trình tạo ra, vì vậy việc đảm bảo chất lượng mạng lưới, chất lượng dịch vụ rất cao. Để cung cấp dịch vụ di động, nhà cung cấp phải trải qua các công việc như: Đầu tư, xây dựng các trung tâm chuyển mạch thông tin di động; Đầu tư xây dựng mạng lưới các trạm thu phát thông tin di động trong phạm vi muốn cung cấp dịch vụ (Trạm BTS, BSC); Tiến hành kết nối các trạm thu phát với nhau và với tổng đài để tạo thành một mạng lưới thông tin di động hoàn chỉnh, thông qua các thiết bị truyền dẫn đặc chủng (như Viba, cáp quang…). Vận hành, khai thác và bảo dưỡng mạng lưới, chăm sóc khách hàng để cung cấp dịch vụ; - Hoạt động cung cấp dịch vụ điện thoại di động mang tính chuỗi giá trị nội vùng, xuyên quốc gia và toàn cầu. - Dịch vụ di động có tính chất kinh tế mạng.
Mỗi thuê bao là một nút mạng, từ đó có thể liên kết tới nhiều thuê bao khác nhau. Khi có nhiều nút thì mối liên hệ giữa các nút tăng lên, và do đó cơ hội để xuất hiện cuộc liên lạc giữa các nút tăng lên. Càng nhiều thuê bao thì lưu lượng liên lạc càng có khả năng tăng. Đây là “Hiệu ứng ngoại sai” của kinh tế mạng.
Hiệu ứng này càng được gia tăng nhờ vào tính chất hai chiều của dịch vụ, nghĩa là có thể gọi đi và nhận cuộc gọi. Một thuê bao trên mạng dù không gọi đi thì vẫn có ý nghĩa làm phát sinh lưu lượng từ các thuê bao khác gọi đến thuê bao này. Do tính chất hai chiều và tính kinh tế mạng nói trên, phát triển thuê bao là yếu tố quan trọng bậc nhất trong kinh doanh dịch vụ di động. Phân loại dịch vụ di động Dịch vụ di động có hai loại chính: dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dịch vụ cơ bản: Bao gồm một số dịch vụ như dịch vụ thoại, dịch vụ bản tin ngắn, dịch vụ cuộc gọi khẩn cấp, dịch vụ truyền số liệu. Dịch vụ giá trị gia tăng: Bao gồm các dịch vụ giá trị gia tăng như hiện số chủ gọi (hoặc cấm hiển thị số chủ gọi); dịch vụ chặn cuộc gọi, dịch vụ chuyển cuộc gọi, dịch vụ chờ cuộc gọi; Dịch vụ chuyển vùng quốc tế; Dịch vụ GPRS cho phép truyền tải dữ liệu và truy nhập Internet tốc độ cao; Dịch vụ nhắn tin đa phương tiện MMS và một số dịch vụ nội dung khác. Hiện tại, bên cạnh các dịch vụ giá trị gia tăng được nêu ở trên, thế giới giải trí cũng đang được chuyển dần vào chiếc mobile nhỏ bé. Hầu hết các máy điện thoại di động đều có tiện ích hỗ trợ nghe nhạc, xem video, chơi game … 2.
Cạnh tranh Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế hàng hoá, là điều kiện sống còn của mỗi doanh nghiệp; nó ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, các thành phần kinh tế. Tuy nghiên, định nghĩa khái niệm cạnh tranh lại không phải là một vấn đề đơn giản do nó được sử dụng trong những phạm vi khác nhau từ cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức, quốc gia cho đến quốc tế; trong khi đó những mục tiêu cơ bản của việc cạnh tranh lại được đặt ra khác nhau, phụ thuộc vào đối tượng được xem xét là một quốc gia hay một doanh nghiệp hay một sản phẩm/dịch vụ. Vì vậy đã có nhiều định nghĩa về cạnh tranh như sau: Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu hút được những lợi nhuận siêu gạch”. Theo cuốn kinh tế học của P.Samuelson (Năm 2000): “ Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường”.
Do đó, ta có thể tóm tắt một số nội dung cơ bản về lý thuyết cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay như sau: Cạnh tranh là hiện tượng phổ biến mang tính tất yếu, là một quy luật cơ bản trong nền kinh tế thị trường. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cạnh tranh có tính chất hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu cực. Cạnh tranh là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các chủ thể kinh doanh hoạt động hiệu quả hơn trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả vì sự sống còn và phát triển của mình. Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có nguy cơ dẫn đến chiếm lĩnh, giành giật, khống chế lẫn nhau… tạo nguy cơ gây rối loạn và thậm chí gây đổ vỡ thị trường.
Để phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, cần duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và kiểm soát độc quyền, xử lý cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh. Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh chuyển từ quan điểm đối kháng sang cạnh tranh trên cơ sở hợp tác, cạnh tranh không phải là khi nào cũng đồng nghĩa với việc tiêu diệt lẫn nhau, triệt hạ nhau. Trên thực tế, các thủ pháp cạnh tranh hiện đại dựa trên cơ sở cạnh tranh bằng chất lượng, mẫu mã, giá cả và các dịch vụ hỗ trợ. Bởi lẽ, khi mà các đối thủ cạnh tranh quá nhiều thì việc tiêu diệt các đối thủ khác là vấn đề không đơn giản.
Trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm; cạnh tranh bằng giá sản phẩm; cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm; cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt; cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán.