CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Khái quát về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Bất kỳ mọi hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực đều có sự cạnh tranh với nhau, vì vậy đã có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh được đưa ra. Tuy nhiên, tùy theo cách nhìn nhận vấn đề khác nhau nên đã có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh được đưa ra.
Theo Karl Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch" (Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), tr. Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất” (Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), tr. Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2006, tr.87), “Cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn các đối thủ cạnh tranh của mình”. Lợi thế cạnh tranh Michael E.
Porter (2012) cho rằng lợi thế cạnh tranh xuất phát chủ yếu từ giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng. Lợi thế có thể ở dưới dạng giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh (trong khi lợi ích của người mua là tương đương), hoặc việc cung cấp những lợi ích vượt trội so với đối thủ khiến người mua chấp nhận thanh toán một mức giá cao hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Theo tác giả, lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng KCN so với các đối thủ là khả năng mà doanh nghiệp đó cung cấp nhiều hơn các giá trị về sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng, làm gia tăng sự thỏa mãn, hài lòng của khách hàng so với các đối thủ. Khái niệm năng lực cạnh tranh Theo tác giả Đinh Thị Nga (2011, tr.16), “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngắn hạn là khả năng của doanh nghiệp trong việc thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sản xuất, tạo ra các sản phẩm có giá cả, chất lượng và tính độc đáo, có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm tương tự trên thị trường để giành được thị phần tương xứng.
Trong dài hạn, năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra tăng trưởng lợi nhuận thông qua việc liên tục đưa ra thị trường các sản phẩm khác biệt, mới lạ”. Theo tác giả Trần Sửu (2005, tr.9) cho rằng “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”. Cũng theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm trong cuốn “Thị trường, chiến lược, cơ cấu” (2006) cho rằng, giá trị gia tăng nội sinh và giá trị gia tăng ngoại sinh chính là năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp, là những yếu tố mà các doanh nghiệp phải đạt được nhằm tăng hiệu quả kinh doanh, mở ra những hướng phát triển mới. Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là sức mạnh của doanh nghiệp được thể hiện trên thương trường.
Sự tồn tại và sức sống của một doanh nghiệp thể hiện trước hết ở năng lực cạnh tranh. Để từng bước vươn lên giành thế chủ động trong quá trình hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh chính là tiêu chí phấn đấu của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Việc nâng cao năng lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN luôn là một đòi hỏi hết sức cần thiết và cấp bách. Nó không chỉ giúp doanh nghiệp tự hoàn thiện để tồn tại, phát triển mà còn góp phần thúc đẩy phát triển ngành, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và mang lại các lợi ích về kinh tế, xã hội cho quốc gia.
Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần khu công nghiệp Năng lực cạnh tranh của công ty là thể hiện thực lực và lợi thế của công ty so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Như vậy, năng lực cạnh tranh của công ty trước hết phải được tạo ra từ thực lực của công ty. Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi công ty, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong công ty được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh.
Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi công ty phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, công ty có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh. Có nhiều tác giả đưa ra lý thuyết về các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Mỗi tác giả có những quan điểm khác nhau tuy nhiên cũng có nhiều điểm chung.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chỉ bao hàm các nhân tố chủ quan, phản ánh nội lực của doanh nghiệp, không bao hàm các nhân tố khách quan, các yếu tố môi trường kinh doanh (Phan Minh Hoạt, 2004). Phương pháp Thompson-Strickland” trong bài báo “Vận dụng phương pháp Thompson-Strickland đánh giá so sánh tổng thể năng lực cạnh tranh của doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kết hợp các lý thuyết trên, tôi nhận thấy năng lực cạnh tranh của công ty khu công nghiệp thể hiện qua các yếu tố cấu thành như sau: 1/ Điều kiện tự nhiên, địa lý, quy mô đất xây dựng; 2/ Cơ sở hạ tầng kinh tế vùng; 3/ Các trung tâm kinh tế và đô thị; 4/ Cơ chế chính sách; 5/ Môi trường chính trị và pháp luật; 6/ Năng lực của các ngành công nghiệp phụ trợ; 7/ Nguồn lao động; 8/ Năng lực quản trị của doanh nghiệp. Điều kiện tự nhiên, địa lý, quy mô đất xây dựng Vị trí địa lý hết sức quan trọng trong quá trình thu hút sự phát triển của các KCN.
Trong các yếu tố quyết định sự thành công của KCN, thì có 2 yếu tố thuộc về yếu tố địa lý và điều kiện tự nhiên là: Gần các tuyến giao thông đường bộ, hàng không, bến cảng và các điều kiện thuận lợi khác. Nguồn nước công nghiệp được cung cấp đầy đủ. KCN phải được xây dựng ở vị trí địa lý thuận lợi, đảm bảo cho giao lưu hàng hoá giữa KCN với thị trường quốc tế và các vùng còn lại trong nước. Đây là một trong những điều kiện cần thiết đối với sự thành công và sự phát triển bền vững của các KCN để đảm bảo cho vận chuyển hàng hoá và nguyên liệu ra vào các KCN được nhanh chóng và thuận tiện nhất nhằm giảm chi phí lưu thông và tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất ra.
Các KCN cần được xây dựng ở gần các khu vực đô thị, gần các trung tâm văn hoá – xã hội, có hệ thống giao thông thuận lợi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Quy mô đất xây dựng KCN cũng có vai trò quan trọng trong việc phát triển các KCN, vì quy mô lớn sẽ tạo nên một khu vực công nghiệp rộng lớn, tiềm năng phát triển lớn hơn. Cơ hội liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp trong KCN sẽ cho hiệu quả thúc đẩy phát triển của các doanh nghiệp. Cơ sở hạ tầng vùng kinh tế Về cơ sở hạ tầng vùng kinh tế, các KCN phải nằm trong khu vực có chính sách ưu tiên của nhà nước, đặc biệt là trong các khu vực làm đòn bẩy phát triển kinh tế của cả nước.
Những khu vực này có thể được nhà nước hỗ trợ trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phục vụ chung nhưng có lợi cho cả KCN như: nâng cấp sân bay, cải tạo và nâng cấp đường bộ, đường sắt, mở rộng các cảng biển…và được các bộ, các ngành tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ trong việc xây dựng các công trình cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc… Đối với các nhà đầu tư, vấn đề cũng rất được quan tâm là nguồn nguyên liệu có sẵn ở địa phương có đủ cung cấp thường xuyên cho các doanh nghiệp, địa chất khu vực công nghiệp phải đảm bảo khả năng để xây dựng các xí nghiệp, các công trình phục vụ sản xuất công nghiệp. Các trung tâm kinh tế và đô thị Các trung tâm kinh tế và đô thị vừa có vị trí thuận lợi, vừa có điều kiện nội tại làm cho các KCN có khả năng phát triển hiệu quả cao, vì đó là: nơi tập trung lao động kỹ thuật có chất lượng cao; tập trung các cơ sở nghiên cứu khoa học, đào tạo, dạy nghề giúp các KCN phát triển thuận lợi; sẵn có hệ thống tài chính ngân hàng; Sẵn có những cơ sở công nghiệp hỗ trợ (về linh kiện, phụ tùng, hoặc bán thành phẩm…) cho công nghiệp trong KCN; đã sẵn có tiện nghi đầy đủ về giáo dục, giải trí, các khách sạn, nhà nghỉ, cung cấp đầy đủ thực phẩm cho người lao động. Chính vì vậy, các trung tâm đô thị lớn có sức hút mạnh mẽ đối với các nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Cơ chế chính sách Môi trường cơ chế chính sách đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của việc phát triển KCN. Vì nếu cơ chế thông thoáng, không gây quá nhiều trở ngại cho các nhà đầu tư, đồng thời có các chính sách ưu đãi thì sẽ hấp dẫn được các nhà đầu tư do họ sẽ giảm được chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận kinh doanh. Do đó, chính sách đầu tư có mối liên hệ chặt chẽ với việc thu hút đầu tư vào KCN.