Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm về KCN 1. Khái niệm về KCN Kinh tế thế giới đã bước sang một giai đoạn mới với việc ứng dụng cách mạng công nghệ thông tin. Thị trường toàn cầu dần rộng mở với tốc độ vận chuyển và truyền thông nhanh hơn bao giờ hết.
Các công ty có thể dễ dàng tận dụng chi phí nhân công và nguyên vật liệu rẻ ở nơi khác để cạnh tranh về giá thành. Người ta không còn cần phải tập trung vào các khu vực dồi dào tài nguyên và nguồn lao động khi xây dựng cơ sở kinh doanh. Phải chăng, nền kinh tế mới đang dần xoá bỏ vai trò của vị trí địa lý trong các quyết định chiến lược. Trên thực tế, lợi thế cạnh tranh khu vực đang dần chuyển biến sang một hướng khác.
Đó là việc hình thành nên các khu công nghiệp tập trung (mang tính tự phát), mà Michael E. Porter, giáo sư kinh tế Đại học Havard, gọi là những "clusters". Trước đây, lợi thế khu vực phụ thuộc vào nguồn tài nguyên, nguồn lao động,. mà ở nơi khác không có được.
Ngày nay, khái niệm cluster đã khẳng định lợi thế khu vực qua hiện tượng quy tụ của các ngành công nghiệp. Không phải ngẫu nhiên mà Hollywood trở thành trung tâm công nghiệp điện ảnh, Wall Street trở thành trung tâm công nghiệp tài chính, Silicon Valley trở thành trung tâm công nghệ cao và bắc Ý trở thành trung tâm công nghiệp giày da cao cấp. Vì khả năng kiểm soát giá thành của các Công ty ngày càng tương đương, năng lực cạnh tranh đang và sẽ phụ thuộc vào tính năng đầu ra của sản phẩm và dịch vụ, với yếu tố quyết định là khả năng đổi mới (innovation) của công ty. Trước hết cần hiểu khu công nghiệp tập trung như thế nào? Theo định nghĩa của Porter, "cluster" là tập hợp các công ty cùng với các tổ chức tương tác qua lại trong một lĩnh vực cụ thể.
Xung quanh nhà sản xuất hình thành các nhà cung cấp chuyên môn hoá các phụ kiện và dịch vụ cũng như cơ sở hạ tầng. Khu công nghiệp tập trung bao trùm lên cả các kênh phân phối và khách hàng, và bên cạnh đó là những nhà sản xuất sản phẩm phụ trợ, các công ty thuộc các ngành liên quan về kỹ thuật, công nghệ hoặc cùng sử dụng một loại đầu vào. Các khu công nghiệp tập Nguyễn Hà Việt 5 Khóa học 2009 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách khoa Hà Nội trung còn hình thành cả các tổ chức chính phủ và phi chính phủ như các trường đại học, các viện công nghệ, các trung tâm nghiên cứu, hiệp hội thương mại. cung cấp các dịch vụ đào tạo chuyên môn, giáo dục, thông tin, nghiên cứu và hỗ trợ kỹ thuật.
Theo Luật Đầu tư của Việt Nam số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 và theo nghị định số 29/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về KCN, KCX và KKT thì định nghĩa về các KCN, KCX và KKT như sau: Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ. Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định của Chính phủ. Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ trường hợp quy định cụ thể. Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính Phủ.
Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinh tế. Đặc điểm của khu công nghiệp: Về mặt pháp lý: các khu công nghiệp là phần lãnh thổ của nước sở tại, các doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp của Việt Nam chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam như: luật đầu tư nước ngoài, luật lao động, quy chế về khu công nghiệp và khu chế xuất. - Về mặt kinh tế: khu công nghiệp là nơi tập trung nguồn lực để phát triển công nghiệp, các nguồn lực của nước sở tại, của các nhà đầu tư trong và ngoài nước tập trung vào một khu vực địa lý xác định, các nguồn lực này đóng góp vào phát Nguyễn Hà Việt 6 Khóa học 2009 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách khoa Hà Nội triển cơ cấu kinh tế, những ngành mà nước sở tại ưu tiên, cho phép đầu tư. Bên cạnh đó, thủ tục hành chính đơn giản, có các ưu đãi về tài chính, an ninh, an toàn xã hội tốt tại đây thuận lợi cho việc sản xuất - kinh doanh hàng hóa hơn các khu vực khác.
Mục tiêu của nước sở tại khi xây dựng khu công nghiệp là thu hút vốn đầu tư với quy mô lớn, thúc đẩy xuất khẩu tạo việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ kiểm soát ô nhiễm môi trường. Sự cần thiết khách quan xây dựng và phát triển KCN Trong quá trình phát triển kinh tế, ở hầu hết các nước đang phát triển đều rất thiếu vốn. Do đó vấn đề tạo vốn được coi là vấn đề lớn nhất trong việc huy động các nguồn lực. Chỉ có tạo được nguồn vốn cho phát triển kinh tế mới có thể tiến hành đầu tư, tạo điều kiện cho nền kinh tế cất cánh.
Giữa hai nguồn vốn đầu tư: trong nước và ngoài nước thì vốn đầu tư trong nước được coi là giữ vai trò quyết định cho sự phát triển, vốn đầu tư nước ngoài được xác định là rất quan trọng tạo ra sự đột phát cho sự phát triển. Một trong những giải pháp để huy động vốn là tích cực mở rộng, nâng cấp cơ sở hạ tầng, nâng cấp dịch vụ và chất lượng các KCN làm cho môi trường đầu tư được thuận lợi hơn. Để hấp dẫn đầu tư nước ngoài và huy động mọi nguồn lực trong nước nhằm phát triển kinh tế đất nước, các quốc gia trên thế giới đều cần có một môi trường đầu tư thuận lợi bao gồm môi trường pháp lý hoàn thiện và môi trường kinh doanh thuận lợi. Hai nhân tố này là điều kiện cần thiết có ý nghĩa tiên quyết cho việc thu hút đầu tư.
Song thực tế nó cũng là điểm yếu mà tất cả các nước đang phát triển gặp phải, không dễ gì nhanh chóng khắc phục. Các nước đang phát triển chưa có được hệ thống pháp luật hoàn hảo cùng với một môi trường kinh doanh thuận lợi nên việc đáp ứng những điều kiện trên cho các nhà đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, không thể thực hiện trong thời gian ngắn. Giải pháp khắc phục mâu thuẫn trên đã được nhiều nước đang phát triển tìm kiếm, lựa chọn và thực tế đã thành công ở nhiều nước là xây dựng các KCN tập trung qua đó thu hút doanh nghiệp FDI và đầu tư trong nước trong khi chưa tạo được môi trường đầu tư hoàn chỉnh trên phạm vi cả nước. Mục tiêu chung của việc hình thành KCN là làm tăng trưởng nhanh và vững chắc tổng sản phẩm quốc nội, tạo việc làm, đô thị hoá các vùng nông thôn lạc hậu, Nguyễn Hà Việt 7 Khóa học 2009 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách khoa Hà Nội nâng cao dân trí.
Các KCN sẽ góp phần tích cực bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả vốn đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp liên kết, hợp tác với nhau nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hội nhập kinh tế quốc tế. KCN phát triển sẽ tác động đến việc hình thành các vùng nguyên liệu, các vùng công nghiệp vệ tinh, góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Phát triển các KCN cũng đồng thời với việc tiết kiệm hạ tầng, có điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư, cung cấp các dịch vụ hành chính công cho các Doanh nghiêp và có môi trường tốt để tiếp nhận và chuyển giao công nghệ tiên tiến. Trong điều kiện thực tế của Việt Nam, chúng ta chưa thể có ngay được một hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại và đồng bộ trên cả nước, chưa thể tạo ra một mặt bằng pháp lý thống nhất và bình đẳng cho các thành phần kinh tế trong và ngoài nước hoạt động, phát triển KCN là một giải pháp để có được một hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, môi trường pháp lý thuận lợi và thống nhất để thu hút vốn trong nước và vốn đầu tư nước ngoài để phát triển.
Đăc biệt trong thời gian gần đây, quan điểm về phát triển KCN có sự thay đổi: phát triển KCN không chỉ chú trọng vào mục tiêu thu hút vốn FDI nhằm du nhập các yếu tố vốn, công nghệ, trình độ lao động của thế giới vào Việt Nam, xem nhẹ khu vực trong nước, mà KCN còn là một giải pháp để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát huy nội lực của các thành phần kinh tế trong nước, thông qua việc thu hút các doanh nghiệp trong nước tham gia đầu tư vào KCN. Biểu hiện rõ nét nhất của xu hướng này là dòng vốn đầu tư trong nước vào KCN vài năm gần đây ngày càng gia tăng. KCN là mô hình kinh tế đã được áp dụng phổ biến trên thế giới. Ở các nước phát triển ở Châu Âu và Bắc Mỹ, có một thời kỳ các nước này đã đẩy mạnh việc phát triển các KCN và rất chú trọng vai trò của KCN trong quá trình phát triển kinh tế.
Kinh nghiệm phát triển mô hình KCN ở các nước này cho thấy, phát triển KCN là một giải pháp tối ưu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp quốc gia. Có thể nói thành công của các KCN đã góp phần không nhỏ để các nước này trở thành những nước có nền kinh tế phát triển như hiện nay.