CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA KHU CÔNG NGHIỆP. Nguồn gốc và sự hình thành Khu công nghiệp. KCN hiện đại ngày nay bắt nguồn từ lâu đời, dạng phổ biến và cổ điển nhất của nó là Cảng tự do (Free Port) tức là Cảng mà tại đó áp dụng Quy chế ngoại quan, theo đó hàng hóa từ nước ngoài vào và từ Cảng đi ra, được vận chuyển một cách tự do mà không phải chịu thuế quan.
Chỉ khi nào hàng hóa vào nội địa mới phải chịu thuế quan. Cảng tự do xuất hiện ở Châu Âu từ thời Trung Cổ. Thế kỷ 16 xuất hiện các Cảng tự do như Leghoan và Genoa ở Ý. Ở Thế kỷ thứ 18 là các Cảng tự do Marseille, Bayonne, Durick.
Đầu Thế kỷ 20 nổi lên các Cảng tự do Copenhagen, Danzij, Hamburg. Cũng trong thời kỳ này, Cảng tự do đã lan truyền từ Âu sang Á, nổi lên là Hồng Kông và Singapore. Các Cảng tự do đã đóng vai trò quan trọng thúc đẩy nền ngoại thương của các nước, hình thành các đô thị sầm uất cùng với các Trung tâm thương mại, dịch vụ, đầu mối giao thông quốc tế như đã thấy qua vị trí và vai trò của các cảng lớn trên Thế giới như New York, Hồng Kông, Singapore,… Khái niệm Cảng tự do đã được mở rộng, vận dụng thành loại hình mới là KCN, KCX, khu xưởng ngoại quan, theo đó khu này không chỉ giới hạn ở tính chất ngoại quan mà còn bao gồm cả hoạt động sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu. Các lọai hình Khu công nghiệp: Trên Thế giới hiện nay hình thành 07 loại hình KCN như sau: 1.
Cảng tự do: Cảng tự do là Cảng mà tại đó áp dụng Quy chế ngoại quan, theo đó hàng hóa từ nước ngoài vào và từ Cảng đi ra, được vận chuyển một cách tự do mà không phải chịu thuế quan. Chỉ khi nào hàng hóa vào nội địa mới phải chịu thuế quan. 10 Các Cảng tự do đã đóng vai trò quan trọng thúc đẩy nền ngoại thương của các nước, hình thành các đô thị sầm uất cùng với các Trung tâm thương mại, dịch vụ, đầu mối giao thông quốc tế như đã thấy qua vị trí và vai trò của các cảng lớn trên Thế giới như New York, Hồng Kông, Singapore. Khu chế xuất: Có nhiều định nghĩa về KCX, mỗi tác giả tuỳ theo đối tượng nghiên cứu mà tập trung chú ý một khía cạnh nào đó của KCX, Song nó có một số điểm chung như : KCX là khu có hàng rào tách biệt, tập trung những nhà sản xuất ra sản phẩm chủ yếu để xuất khẩu, các nhà đầu tư vào đây được khuyến khích thông qua các hình thức miễn giảm thuế và các chính sách tài chính khác.
Khu Công nghiệp tập trung: Khu công nghiệp là Khu tách biệt, tập trung những nhà đầu tư vào các ngành công nghiệp mà Nhà nước cần khuyến khích, ưu đãi. Tại đây, Chính phủ nước sở tại sẽ dành cho các nhà đầu tư những ưu đãi cao về thuế, về các biện pháp đối xử phi thuế quan, về quyền chuyển lợi nhuận ra nước ngoài,… để họ đưa công nghệ vào rồi tiến tới chuyển giao công nghệ cho nước chủ nhà. Đây là mục tiêu của KCN. Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất.
Đặc khu kinh tế: Vào cuối những năm 70, Trung Quốc phải có những biện pháp đặc biệt để hấp dẫn vốn, kỹ thuật, quản lý nước ngoài. Năm 1979, Chính phủ Trung Quốc thông báo hai tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến thử nghiệm mô hình đặc khu kinh tế. Bốn đặc khu đầu tiên bao gồm: Thẩm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu (Tỉnh Quảng Đông) và Hạ Môn (Tỉnh Phúc Kiến) thử nghiệm mô hình này, chính quyền của các đặc khu này được quyền công bố các quy định luật pháp của địa phương về thu hút đầu tư nước ngoài như thuế suất ưu đãi, miễn thuế nguyên liệu, máy móc dụng cụ sản xuất. Mọi vấn đề kinh tế, thương mại, đầu tư, dịch vụ,… đều do chính quyền đặc khu quyết định.
Đặc khu có hàng rào hoặc biên giới ngăn cách rõ ràng với đại lục. Phần lớn hàng hóa sản xuất tại các đặc khu kinh tế đều phải xuất khẩu, trong đó 30% hàng hóa được bán tại nội địa. Khu bảo thuế: 11 Đây cũng là mô hình của Trung Quốc đang áp dụng ở các đặc khu Thẩm Quyến, Sơn Đầu,… Khu bảo thuế nằm trong đặc khu này có hàng rào cứng bao bọc. Nhà đầu tư nước ngoài được phép đưa vào Khu bảo thuế mọi nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ phục vụ cho sản xuất hàng hoá tại Khu bảo thuế mà không phải đóng thuế.
Nhà đầu tư được thuê mướn nhân công tại đây để sản xuất. Có thể nói Khu bảo thuế là hình thức mở rộng phạm vi của kho ngoại quan. Với kho ngoại quan, hàng hoá nước ngoài được đưa vào lưu kho, không chịu thuế nhưng chịu sự kiểm soát của hải quan, khi nào đưa hàng hoá đó vào nội địa thì mới phải làm thủ tục hải quan, nộp thuế theo luật định. Khu Phát triển Khoa học – Công nghệ hoặc Khu công nghệ cao (KCNC): Đây là một loại hình KCNC mới được hình thành ở một số nước trong khu vực Châu Á như: Nhật Bản có KCNC Tsukuba, Đài Loan (HsinChu), Singapore (Công viên khoa học), Hàn Quốc (Thành phố khoa học Taedok).
Điểm khác biệt ở loại hình này là người ta huy động vào khu này các trường Đại học công nghiệp, các trung tâm nghiên cứu để thực hiện việc nghiên cứu ứng dụng các sản phẩm mới, các tính năng tác dụng mới của sản phẩm. Khu vực này cũng dành những ưu đãi cao cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước (tại các khu nói trên, họ đều thực hiện liên doanh với các hãng công nghiệp lớn của các nước Âu Mỹ, phần trong nước tham gia cũng rất mạnh vì doanh nghiệp trong nước đều có tiềm năng). Ưu thế của khu Khoa học – Công nghệ này là kỹ thuật cao, độc đáo, có thị trường xuất khẩu rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Kim ngạch của một xí nghiệp ở đây thậm chí lên tới hàng chục tỷ USD một năm.
Khu vực mậu dịch tự do (FTA) : Khu vực mậu dịch tự do là khu vực mà ở đó các hoạt động thương mại được tự do với 3 nội dung cơ bản: - Thuế quan XNK được bãi bỏ. - Các biện pháp phi thuế quan được bãi bỏ. - Các hoạt động thương mại đối với hàng hoá và thương nhân trong cũng như ngoài nước được đối xử bình đẳng. 12 Việc tháo gỡ hàng rào thuế quan và phi thuế quan được tiến hành dần từng bước, căn cứ vào sức cạnh tranh của hàng hoá trong nước, năng lực của khu vực FTA và nhu cầu của Nhà nước nơi đặt FTA.
Do vậy, thông thường, mức độ ưu đãi về thuế và phi thuế nói trên sẽ tăng dần, tức là việc bãi bỏ thuế và các biện pháp phi thuế sẽ được thực hiện dần qua từng năm, từng thời kỳ từ thấp lên cao để sản xuất trong nước thích nghi dần, không bị sốc đột biến. Khái niệm về KCN ở Việt Nam. Trước đây, theo Nghị định 322/NĐ-HĐBT ban hành ngày 18/10/1991 về Quy chế Khu chế xuất tại Việt Nam và sau đó Nghị định 192/NĐ-CP ban hành ngày 28/12/1994 về Quy chế Khu công nghiệp. Các khái niệm Khu chế xuất, Khu công nghiệp được quy định ở hai Nghị định này cũng khác nhau.
Sau đó, ngày 24/04/1997, Chính Phủ ban hành Nghị định số 36/CP về Quy chế Khu chế xuất, Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao thay thế cho hai quy chế nêu trên thì khái niệm KCN, KCX mới được thống nhất, theo đó, theo nghĩa rộng Khu công nghiệp bao gồm: Khu chế xuất, Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao với các khái niệm như sau: - “KCN là khu tập trung các doanh nghiệp KCN, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính Phủ, hoặc Thủ tướng Chính Phủ thành lập, trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất”. - “KCX là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất, chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính Phủ hoặc Thủ tướng Chính Phủ quyết định thành lập”. - “KCNC là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động cho phát triển công nghệ cao, bao gồm: nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ, đào tạo và dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính Phủ hoặc Thủ tướng Chính Phủ quyết định thành lập. Trong KCNC có thể có doanh nghiệp chế xuất”.
Nghị định số 99/2003/NĐ – CP, ngày 28 tháng 8 năm 2003 của Chính phủ về ban hành “Quy chế khu công nghệ cao” đã xác định : 13 - “Khu công nghệ cao” là khu kinh tế kỹ thuật đa chức năng, có ranh giới xác định do Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập, nhằm nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao và sản xuất kinh doanh sản phẩm công nghệ cao. Trong khu công nghệ cao có thể có khu chế xuất, khu ngoại quan, khu bảo thuế và khu nhà ở. Gần đây nhất, Luật đầu tư được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 đã hiệu chỉnh lại khái niệm về KCN, KCX và KCNC như sau: -“KCN là khu chuyên sản xuất hàng hàng công nghiệp, và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, dược thành lập theo quy định của Chính phủ”. -“KCX là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ”.
Theo quan điểm của tác giả: Về cơ bản, hai khái niệm KCN và KCX không khác nhau, tuy nhiên về chức năng hoạt động KCX xuất khẩu 100% sản phẩm do mình sản xuất, quan hệ giữa KCX với thị trường nội địa là quan hệ ngoại thương, với những ưu đãi đặc biệt dành cho các nghiệp vụ sản xuất xuất khẩu; trong khi mục tiêu chính mà các KCN cần hướng tới là tranh thủ ưu đãi của các nguồn đầu tư trong, ngoài nước và được phép tiêu thụ sản phẩm của mình trên thị trường nội địa.