Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Phạm Văn Sơn Khanh với đề tài "Hoàn thiện hoạt động các khu công nghiệp tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010" được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2006. Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán hoàn thiện mô hình tổ chức, quản lý và vận hành hệ thống khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) và khu công nghệ cao (KCNC) tại địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Mô hình KCN là mô hình kinh tế mới được triển khai tại Việt Nam nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiếp thu công nghệ và kỹ năng quản lý. Thực hiện Quyết định số 519/TTg ngày 06/08/1996 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển các KCN thời kỳ 1996 – 2010, đến tháng 09/2005, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) đã tập trung 43 KCN, KCX trên tổng số 75 khu của cả nước (chiếm 57,33%), sở hữu 4/5 KCX toàn quốc, chiếm 65,10% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê. Vùng đã thí điểm nhiều cơ chế quản lý như mô hình "Một cửa, tại chỗ", chế độ tự đảm bảo kinh phí hoạt động của Ban Quản lý, hải quan hiện đại quản lý theo rủi ro, và cổ phần hóa KCN có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, quá trình phát triển bộc lộ nhiều hạn chế về giải phóng mặt bằng, chất lượng hạ tầng kỹ thuật - xã hội, chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trường và liên kết vùng. Luận án giải quyết khoảng trống về việc đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động giai đoạn 2001 – 2005 nhằm xác định hệ thống giải pháp hoàn thiện hoạt động KCN đến năm 2010.
  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về xây dựng và phát triển KCN.
    2. Phân tích kinh nghiệm phát triển KCN của một số quốc gia và vùng lãnh thổ khu vực Châu Á nhằm rút ra bài học vận dụng cho Việt Nam và vùng KTTĐPN.
    3. Đánh giá thực trạng hoạt động của các KCN tại vùng KTTĐPN giai đoạn 2001 – 2005 (tính đến tháng 09/2005).
    4. Xác định những tồn tại và nguyên nhân cản trở sự phát triển, nâng cao hiệu quả KCN trong vùng.
    5. Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp hoàn thiện hoạt động các KCN vùng KTTĐPN đến năm 2010.
  • Đối tượng nghiên cứu: Sự hình thành và kết quả hoạt động của các KCN, KCX, KCNC cùng các doanh nghiệp đang hoạt động trong các KCN thuộc vùng KTTĐPN.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Nghiên cứu 6 tỉnh, thành phố trực thuộc vùng KTTĐPN gồm Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, Long An và Tây Ninh (tỉnh Bình Phước thời điểm này mới trong giai đoạn xây dựng quy hoạch nên không đưa vào phân tích thực trạng chi tiết).
    • Thời gian: Dữ liệu khảo sát, phân tích thực trạng tập trung giai đoạn 2001 đến tháng 09/2005; các định hướng và giải pháp đề xuất áp dụng đến năm 2010.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan, tác giả điểm lại các nguồn tài liệu, công trình nghiên cứu và báo cáo tổng kết trong nước và quốc tế liên quan đến lý luận và thực tiễn phát triển khu công nghiệp:

  • Tài liệu và công trình quốc tế: Luận án sử dụng các công trình khảo cứu, tài liệu tổng kết thực tiễn của Cơ quan Phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) như tài liệu Export Processing Zones Principle and Practice; báo cáo của Hiệp hội Khu chế xuất Thế giới (WEPZA); các nghiên cứu định nghĩa và phân loại của Ngân hàng Thế giới (World Bank - 1992, 1998), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Trung tâm Liên Hợp Quốc về Công ty Xuyên quốc gia (UNCTC - 1998).
  • Tài liệu và hội thảo trong nước: Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu từ các kỷ yếu tham luận hội thảo chuyên đề "Lý luận và thực tiễn phát triển các KCN ở Việt Nam" do các Bộ, ngành tổ chức trong các năm 2003 – 2004 tại TP. Hồ Chí Minh, Thanh Hóa và Đồng Nai; báo cáo tổng kết của Ban Quản lý các Khu chế xuất và Khu công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (Hepza) năm 2004; các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1994), VIII (1996), IX (2001) và Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII.
  • Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận KCN ở góc độ dự án kỹ thuật đơn lẻ hoặc phân tích thuần túy chính sách ưu đãi tài chính tại từng địa phương độc lập. Luận án đặt KCN trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế vùng, phân tích các chỉ tiêu hoạt động thực tế trên phạm vi 6 địa phương hạt nhân của vùng KTTĐPN, chỉ rõ các mắt xích yếu kém trong quản lý liên kết vùng, quy hoạch hạ tầng xã hội và cơ chế hành chính để xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Khung lý thuyết và khái niệm:
    • Lý thuyết phân vùng kinh tế và vai trò của KCN: Phân tích hai trường phái phân vùng kinh tế gồm quan điểm "Phân công lao động theo lãnh thổ" (kế hoạch hóa tập trung, dựa vào phân phối tài nguyên giới hạn) và quan điểm "Thị trường tự do" (dựa vào quy luật cạnh tranh, lợi thế so sánh và cơ chế thị trường). Luận án xác định KCN đóng hai vai trò cơ bản: đối nội (nơi thử nghiệm chính sách mới, đầu tàu tăng trưởng lan tỏa) và đối ngoại (cửa sổ hội nhập, thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý).
    • Hệ thống phân loại mô hình KCN: Phân tích 7 loại hình KCN phổ biến trên thế giới gồm Cảng tự do (Free Port), Khu chế xuất (EPZ), Khu công nghiệp tập trung (Industrial Park), Đặc khu kinh tế (SEZ), Khu bảo thuế (Bonded Area), Khu phát triển khoa học - công nghệ / Khu công nghệ cao (Science and Industrial Development Zone), và Khu vực mậu dịch tự do (FTA/FTZ).
    • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Theo dõi sự tiến triển của khái niệm pháp lý từ Nghị định 322/NĐ-HĐBT (18/10/1991), Nghị định 192/NĐ-CP (28/12/1994), Nghị định 36/CP (24/04/1997), Nghị định 99/2003/NĐ-CP (28/08/2003) và Luật Đầu tư năm 2005. Luận án thống nhất dùng thuật ngữ "Khu công nghiệp" làm đại diện chung cho cả KCN, KCX và KCNC trong các nội dung phân tích.
    • Hệ thống yếu tố tác động: Luận án xác lập khung phân tích gồm 10 yếu tố tác động đến sự phát triển KCN: đường lối chủ trương của Đảng/Nhà nước; công tác quy hoạch; cơ chế hành chính; vị trí địa lý; đất đai - đền bù - giải phóng mặt bằng; hạ tầng kỹ thuật; chính sách ưu đãi đầu tư; chuyển giao công nghệ và bảo vệ môi trường; nguồn nhân lực; hạ tầng xã hội và công tác xúc tiến đầu tư.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
    • Phương pháp phân tích hệ thống, phân tích tương quan và thống kê mô tả.
    • Phương pháp so sánh đối chiếu số liệu giữa các địa phương trong vùng và giữa vùng KTTĐPN với cả nước.
    • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn quốc tế và điển cứu (case study).
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ số liệu thống kê chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý KCN các tỉnh/thành phố (TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Tây Ninh), báo cáo hoạt động giai đoạn 2001 – tháng 09/2005, cùng các tài liệu thống kê của UNIDO, WEPZA và JETRO.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về các khu công nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử hình thành KCN từ các Cảng tự do thế kỷ 16–18 (Genoa, Leghorn, Marseille, Bayonne) đến Cảng Shannon (Ireland, 1959) – mô hình KCX hiện đại đầu tiên. Luận án tổng hợp bảng thuật ngữ phân loại 23 tên gọi khu vực tự do của UNIDO thành 5 nhóm chức năng chính.

Nhóm chức năng Thuật ngữ tiêu biểu theo UNIDO
Nhóm 1: Thương mại Khu vực thương mại tự do, Khu vực thuế quan tự do, Khu vực miễn thuế hàng xuất khẩu
Nhóm 2: Xuất khẩu Khu vực xuất khẩu tự do, Khu vực chế tạo hàng xuất khẩu, Khu chế biến xuất khẩu tự do
Nhóm 3: Sản xuất Khu sản xuất tự do, Khu liên hiệp doanh nghiệp, Khu chế biến công nghiệp tự do
Nhóm 4: Hoạt động kinh tế Khu thúc đẩy đầu tư, Khu kỹ thuật Maquiladora, Khu dịch vụ quốc tế
Nhóm 5: Tổng quát Cảng tự do, Đặc khu kinh tế (SEZ), Khu miễn thuế quan

Chương này phân tích sâu 11 bài học kinh nghiệm quốc tế rút ra từ thực tiễn Châu Á:

  1. Hoàn thiện môi trường pháp lý: Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật minh bạch, ổn định.
  2. Xác định đúng mục đích xây dựng KCN: Định vị rõ mục tiêu giải quyết việc làm, gia công hay tiếp nhận công nghệ cao.
  3. Công tác quy hoạch phát triển KCN: Quy hoạch đồng bộ không gian trong và ngoài KCN, kết hợp quy trình từ dưới lên (bottom-up) và từ trên xuống (top-down).
  4. Lựa chọn vị trí đúng đối với KCN: Vị trí giao thông thuận lợi quyết định tỷ lệ lấp đầy (dẫn chứng KCN Lat KraBang 36 ha tại Bangkok thành công nhanh chóng, trong khi KCN Lamphun 24 ha tại Chiang Mai sau 2 năm chỉ có 1 nhà máy).
  5. Đơn giản thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế "Một cửa": Cắt giảm chi phí và thời gian cho nhà đầu tư.
  6. Chính sách ưu đãi hấp dẫn đầu tư: Áp dụng chính sách thuế linh hoạt, phù hợp chuẩn mực quốc tế và cam kết gia nhập WTO.
  7. Đa dạng hóa các loại hình KCN: Kết hợp KCN tập trung, KCX, KCNC và các mô hình chuyên ngành.
  8. Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước đối với KCN: Phân cấp, ủy quyền đồng bộ cho Ban Quản lý cấp tỉnh.
  9. Nâng cao hàm lượng công nghệ cao: Phát triển các khu khoa học kỹ thuật (như Tsukuba - Nhật Bản, HsinChu - Đài Loan, Science Park - Singapore, Taedok - Hàn Quốc).
  10. Phát triển KCN kết hợp bảo vệ môi trường: Đảm bảo phát triển bền vững ngay từ khâu thẩm định dự án.
  11. Bài học từ các dự án không thành công: Điển cứu KCN Bataan (Philippines) thất bại do nằm ở vùng núi cách Manila 150 km, trái ngược với sự thành công của KCN Cavite và Mactan; KCN Santa Tomasde Castila (Guatemala) thất bại do cách thủ đô 320 km.

Về kinh nghiệm Đài Loan, tác giả nêu rõ quá trình phát triển từ KCN Kulung (1960) đến năm 1991 đạt hơn 95 KCN với tổng diện tích khoảng 13.000 ha, chủ yếu cung cấp nhà xưởng xây sẵn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đối với Trung Quốc, từ 4 đặc khu thí điểm năm 1979 (Thẩm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu, Hạ Môn), mô hình đã mở rộng ra 14 thành phố duyên hải (1984), Phổ Đông - Thượng Hải (1990) và các tỉnh nội địa (1992).

Chương 2: Phân tích thực trạng hoạt động của các khu công nghiệp tại vùng KTTĐPN

Chương 2 trình bày bức tranh thực trạng hoạt động KCN tại 6 tỉnh, thành phố (TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Tây Ninh) giai đoạn 2001 đến tháng 09/2005.

  • Vị trí và quy mô phát triển: Theo Quyết định 44/1998/QĐ-TTg và Quyết định 146/QĐ-TTg, vùng KTTĐPN giữ vai trò hạt nhân kinh tế với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 1996 – 2000 đạt 13,5%. Đến tháng 09/2005, vùng đạt các kết quả quy mô nổi bật:
    • Sở hữu 43 KCN, KCX đang hoạt động / 75 khu của cả nước (tỷ lệ 57,33%).
    • Chiếm 4/5 KCX của cả nước.
    • Diện tích đất có thể cho thuê chiếm 65,10% cả nước; tỷ lệ lấp đầy bình quân đạt 51,51%.
    • Thu hút 2.239 dự án đầu tư trong và ngoài nước.
    • Tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 14,47 tỷ USD; vốn thực hiện đạt 8,91 tỷ USD (tỷ lệ thực hiện đạt 61,63%).
    • Giải quyết việc làm cho 530.000 lao động.
  • Phân tích kết quả theo danh mục 56 bảng số liệu của luận án: Tác giả phân tích chi tiết dữ liệu thực tế tại từng địa phương về tình hình quy hoạch, thu hút vốn theo quốc gia/ngành nghề, diện tích cho thuê, kim ngạch xuất khẩu, thu nộp ngân sách và giải quyết việc làm. Một số đơn vị điển hình được mổ xẻ gồm KCX Tân Thuận, KCN Bình Chiều, Tân Tạo (TP.HCM); KCN VSIP, Sóng Thần I, Sóng Thần II, Đồng An, Việt Hương, MBIZ (Bình Dương); KCN Trảng Bàng (Tây Ninh).
  • Đánh giá thành tựu và tồn tại:
    • Thành tựu: Đi đầu cả nước về số lượng KCN và thu hút FDI; hình thành các mô hình quản lý mới (cơ chế "Một cửa, tại chỗ" theo Thông báo số 22/TB ngày 04/02/1993 của Văn phòng Chính phủ; mô hình tự chủ tài chính của Ban Quản lý; thủ tục hải quan điện tử); đóng góp lớn vào ngân sách và kim ngạch xuất khẩu của vùng.
    • Tồn tại: Công tác đền bù giải tỏa tiến triển chậm, giá đền bù thiếu ổn định giữa các thời kỳ gây khiếu kiện kéo dài; hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào thiếu đồng bộ; hạ tầng xã hội (nhà ở công nhân, trường học, trạm y tế, khu văn hóa) bị bỏ ngỏ dẫn đến các khu dân cư tự phát mất mỹ quan; thu hút FDI nặng về số lượng dự án, chưa kiểm soát được chất lượng công nghệ chuyển giao; nguy cơ ô nhiễm môi trường gia tăng; thiếu sự phối hợp, liên kết kinh tế giữa các địa phương trong vùng.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động các KCN tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010

Chương 3 xây dựng hệ thống quan điểm và giải pháp dựa trên định hướng phát triển KT-XH của vùng đến năm 2010:

  • Hệ thống 4 quan điểm xây dựng giải pháp:
    1. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN: Chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, tối ưu hóa hiệu quả sử dụng đất và suất đầu tư trên một diện tích.
    2. Bảo đảm tính bền vững trong hoạt động: Kết hợp tăng trưởng công nghiệp với kiểm soát môi trường sinh thái và phát triển hạ tầng xã hội phục vụ người lao động.
    3. Tăng cường sự liên kết hoạt động giữa các KCN trong vùng: Tránh cạnh tranh tiêu cực, phân công chuyên môn hóa ngành nghề theo lợi thế so sánh từng tỉnh.
    4. Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư: Điều chỉnh chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (theo Nghị định 24/2000/NĐ-CP, Nghị định 27/2003/NĐ-CP, Nghị định 51/1999/NĐ-CP, Nghị định 35/2002/NĐ-CP) và chính sách đất đai phù hợp thông lệ quốc tế và quy định WTO.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp thực hiện:
    • Nhóm 1: Nâng cao hiệu quả hoạt động: Tăng cường tiêu chí công nghệ cao khi thẩm định dự án; đẩy nhanh tiến độ lấp đầy diện tích đất công nghiệp hiện hữu; hỗ trợ phát triển công nghiệp phụ trợ.
    • Nhóm 2: Bảo đảm tính bền vững: Quy hoạch bắt buộc quỹ đất xây dựng nhà ở công nhân và hạ tầng xã hội (nhà trẻ, trạm y tế, thiết chế văn hóa); đầu tư đồng bộ hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn; thiết lập cơ quan thẩm định thế hệ công nghệ nhập khẩu.
    • Nhóm 3: Tăng cường liên kết vùng: Phân bổ ngành nghề công nghiệp mũi nhọn giữa TP.HCM (công nghệ cao, phần mềm, dịch vụ tài chính), Đồng Nai - Bình Dương (cơ khí, chế biến, công nghiệp hỗ trợ), Bà Rịa - Vũng Tàu (dầu khí, dịch vụ cảng biển, công nghiệp nặng) và Long An - Tây Ninh (chế biến nông sản, tiểu thủ công nghiệp).
    • Nhóm 4: Hoàn thiện cơ chế chính sách: Hoàn thiện khung pháp lý tiến tới ban hành Luật Khu công nghiệp; đẩy mạnh phân cấp quản lý theo cơ chế "Một cửa, tại chỗ" cho 42 Ban Quản lý KCN cấp tỉnh; hoàn thiện cơ chế tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp phát triển hạ tầng kỹ thuật.
  • Tổ chức thực hiện: Thành lập tổ chức điều phối phát triển KT-XH chung cho toàn vùng KTTĐPN; tiến hành kiểm tra, giám sát định kỳ kết quả xây dựng hạ tầng; phát động phong tràu thi đua và tổ chức phổ biến bài học kinh nghiệm thành công, thất bại từ các nước Châu Á.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp về mặt lý luận:
    • Hệ thống hóa quá trình phát triển các mô hình KCN trên thế giới và phân tích sâu bản chất 7 loại hình KCN phổ biến.
    • Làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa phát triển KCN với phân vùng kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi sang kinh tế thị trường tại Việt Nam.
    • Đúc kết 11 bài học kinh nghiệm quốc tế từ các quốc gia, vùng lãnh thổ Châu Á (Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines) và cụ thể hóa phương thức vận dụng vào bối cảnh vùng KTTĐPN.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp bức tranh dữ liệu toàn diện về tình hình hoạt động của 43 KCN, KCX tại 6 địa phương thuộc vùng KTTĐPN giai đoạn 2001 – 2005 qua hệ thống 56 bảng số liệu thống kê chi tiết.
    • Đánh giá thực chất các mô hình thí điểm quản lý nhà nước tại vùng (cơ chế "Một cửa, tại chỗ", tự chủ kinh phí Ban Quản lý, quản lý rủi ro hải quan).
    • Chỉ rõ các nguyên nhân gốc rễ dẫn đến sự chậm trễ trong đền bù giải tỏa, sự thiếu hụt hạ tầng xã hội và nguy cơ ô nhiễm môi trường tại các KCN.
  • Kiến nghị đề xuất: Đề xuất ban hành Luật Khu công nghiệp; kiến nghị thành lập cơ quan điều phối phát triển cấp vùng; đề xuất các điều chỉnh cụ thể về chính sách thuế, tiền thuê đất và tiêu chuẩn thẩm định công nghệ đối với các Bộ, ngành Trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố trong vùng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của văn bản:
    • Địa bàn tỉnh Bình Phước (mới sáp nhập vào vùng KTTĐPN theo Quyết định 146/QĐ-TTg năm 2004) chưa có số liệu đánh giá thực trạng chi tiết do thời điểm nghiên cứu địa phương này mới dừng ở bước lập quy hoạch phát triển KCN.
    • Luận án chưa có dữ liệu điều tra thống kê quy mô toàn quốc về hiện trạng tuổi thọ và thế hệ công nghệ thực tế đang sử dụng tại các doanh nghiệp KCN do thiếu cơ quan kiểm định độc lập tại thời điểm khảo sát.
    • Mốc số liệu thực chứng kết thúc vào tháng 09/2005, chưa phản ánh đầy đủ tác động sau khi Luật Đầu tư năm 2005 chính thức có hiệu lực thi hành và thời điểm Việt Nam hoàn tất đàm phán gia nhập WTO.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát toàn diện địa bàn tỉnh Bình Phước khi các KCN đi vào vận hành; thực hiện các nghiên cứu định lượng chuyên sâu đo lường mức độ chuyển giao công nghệ và tác động môi trường thực tế của các doanh nghiệp FDI trong KCN sau khi gia nhập WTO.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Cung cấp cơ sở thực tiễn để Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UBND các tỉnh vùng KTTĐPN hoàn thiện cơ chế phân cấp "Một cửa, tại chỗ", thành lập hội đồng điều phối vùng và quy hoạch đồng bộ hạ tầng xã hội (nhà ở công nhân) gắn liền với KCN.
  • Đối với các Ban Quản lý KCN và Công ty phát triển hạ tầng: Tham khảo kinh nghiệm quốc tế về mô hình xây dựng nhà xưởng tiêu chuẩn cho thuê (bài học Đài Loan), bài học lựa chọn vị trí địa lý kết nối giao thông (bài học Thái Lan, Philippines), và phương thức quản lý môi trường, xúc tiến đầu tư có chọn lọc.
  • Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên chuyên ngành Kinh tế: Là tài liệu chuyên khảo có giá trị về phương pháp tiếp cận đánh giá KCN dưới góc độ kinh tế vùng, cung cấp hệ thống dữ liệu lịch sử chi tiết giai đoạn 2001 – 2005 của vùng kinh tế động lực phía Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Tính đến tháng 09/2005, quy mô KCN vùng KTTĐPN chiếm tỷ trọng bao nhiêu so với cả nước?
Theo số liệu trong luận án, vùng KTTĐPN có 43 KCN, KCX trên tổng số 75 khu đang hoạt động của cả nước (chiếm 57,33%), sở hữu 4/5 KCX toàn quốc, chiếm 65,10% diện tích đất cho thuê của cả nước. Vốn đầu tư thu hút đạt 14,47 tỷ USD (vốn thực hiện đạt 8,91 tỷ USD, tỷ lệ 61,63%), thu hút 2.239 dự án và giải quyết việc làm cho 530.000 lao động.

2. Cơ chế quản lý hành chính "Một cửa, tại chỗ" ra đời từ văn bản nào và có ý nghĩa gì?
Cơ chế này bắt nguồn từ kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 22/TB ngày 04/02/1993 của Văn phòng Chính phủ (sau buổi làm việc với Ban Quản lý KCX TP.HCM ngày 31/01/1993). Cơ chế thực hiện thông qua việc ủy quyền của các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh cho Ban Quản lý KCN thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đầu tư, xây dựng, thương mại, lao động, đồng thời bố trí đại diện hải quan, thuế vụ giải quyết tại chỗ, giúp giảm thiểu thủ tục quan liêu và chi phí cho nhà đầu tư.

3. Bài học thất bại về lựa chọn vị trí KCN tại Châu Á được luận án dẫn chứng là trường hợp nào?
Luận án dẫn chứng điển cứu KCN Bataan tại Philippines (thất bại do đặt tại vùng núi cách thủ đô Manila 150 km, trong khi các KCN Cavite và Mactan gần trung tâm lại thành công); KCN Lamphun tại Thái Lan (sau 2 năm chỉ có 1 nhà máy do vị trí kém thuận lợi hơn KCN Lat KraBang ở ngoại ô Bangkok); và KCN Santa Tomasde Castila tại Guatemala (thất bại do cách thủ đô 320 km).

4. Vùng KTTĐPN gồm những tỉnh, thành phố nào theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ?
Theo Quyết định số 44/1998/QĐ-TTg ngày 23/02/1998, vùng KTTĐPN ban đầu gồm 4 tỉnh, thành phố: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Dương. Đến ngày 13/08/2004, Quyết định số 146/QĐ-TTg mở rộng vùng thêm 3 tỉnh: Long An, Tây Ninh và Bình Phước (tổng cộng gồm 7 tỉnh, thành phố).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Văn Sơn Khanh là công trình nghiên cứu hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực trạng vận hành hệ thống KCN tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 2001 – 2005. Bằng phương pháp phân tích thực chứng dựa trên hệ thống 56 bảng số liệu chi tiết tại 6 địa phương, tác giả đã làm rõ các thành tựu nổi bật cùng những điểm nghẽn lớn về giải tỏa mặt bằng, hạ tầng xã hội, chất lượng công nghệ và liên kết vùng. Hệ thống 4 quan điểm và 4 nhóm giải pháp được đề xuất cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ hoàn thiện cơ chế chính sách, nâng cao hiệu quả và định hướng phát triển bền vững các KCN vùng KTTĐPN đến năm 2010.