CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khái quát chung về Khu công nghiệp 1. Khu công nghiệp - Định nghĩa KCN: + Ở nước ta, trong Nghị định 192/NĐ-CP ngày 25/12/1994 của Chính phủ đã chỉ rõ: “KCN do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống”. + Theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 và Nghị định 164/2013/NĐ- CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 29/2008/NĐ-CP thì KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ.
+ Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ (Luật Đầu tư, 2005). Như vậy, có thể hiểu KCN là một khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp; có ranh giới cụ thể, không có dân cư sinh sống và được Chính phủ hoặc Thủ tướng phê duyệt thành lập (trong KCN có thể có cả khu chế xuất). Có nhiều thuật ngữ đồng nghĩa với KCN như sau: Industrial Zones (Khu công nghiệp); Industrial Parks (Công viên công nghiệp); Industrial Cluster (Cụm công nghiệp); Industrial Processing Zones (Khu chế biến công nghiệp); Export Processing Zones (Khu chế xuất); Business Parks (Công viên thương mại); Science and Research Parks (Công viên khoa học và nghiên cứu); High – Tech Centers (Trung tâm công nghệ cao); Bio- Technology Parks (Công viên công nghệ sinh học); Eco- Industrial Parks (Công viên công nghiệp sinh thái). Nguồn: Quản lý môi trường các khu công nghiệp, INFOTERRA, 2000.
- Đặc điểm chung KCN + Khu công nghiệp là nơi tập trung tương đối nhiều doanh nghiệp cùng sử dụng chung cơ sở hạ tầng sản xuất xã hội, được hưởng quy chế ưu đãi riêng khác với các -6- doanh nghiệp phân bố ngoài KCN (như giá thuê đất, thuế quan, chuyển đổi ngoại tệ…), không có dân cư sinh sống. Các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa công nghiệp, các sản phẩm có thể xuất khẩu hoặc bán nội địa. + Có ranh giới rõ ràng với quy mô đất đai đủ lớn với vị trí địa lý thuận lợi (gần sân bay, bến cảng, đường sắt, đường ô tô…). + KCN được Chính phủ quyết định thành lập đúng điều kiện, trình tự và thủ tục quy định.
+ KCN có Ban quản lý thống nhất để thực hiện quy chế quản lý, đồng thời có sự phân cấp rõ ràng về quản lý và tổ chức sản xuất. Về phía các doanh nghiệp, khả năng hợp tác sản xuất phụ thuộc vào việc tự liên kết với nhau của từng DN. Việc quản lý Nhà nước được thể hiện ở quy định những ngành (hay loại hình doanh nghiệp) được khuyến khích đ ầ u t ư phát triển ( s ả n p h ẩ m c ô n g n g h ệ c a o ) và những ngành (hoặc loại h ì n h doanh nghiệp) không được phép đặt trong KCN vì các lý do nhất định (như môi trường sinh thái, hay an ninh quốc phòng). + Bên cạnh đó, n hững Công ty đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN là những doanh nghiệp có chức năng kinh doanh cơ sở hạ tầng được Thủ tướng Chính phủ thành lập cho phép đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN.
Được UBND tỉnh quyết định sau khi có chủ trương của Chính phủ. + Về quy mô, tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai, vị trí địa lý và sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư (trong và ngoài nước), có thể chia thành các KCN có quy mô lớn, các KCN có quy mô vừa và nhỏ. Ở nước ta, quy mô về diện tích của KCN tập trung có thể quy định như sau: Quy mô lớn: trên 300 ha; Quy mô vừa: từ 150 đến 300 ha; Quy mô nhỏ: dưới 150 ha; CCN: dưới 100 ha. + Về trình độ công nghệ, có thể chia ra một số loại KCN tuỳ thuộc vào trình độ khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp phân bố trong KCN.
KCN gồm các doanh nghiệp có trình độ công nghệ tiên tiến thì gọi là khu công nghệ cao và ngược lại. Quan điểm phát triển khu công nghiệp UBND tỉnh Đồng Nai luôn xác định quan điểm về phát triển các KCN phải luôn luôn gắn kết với sự phát triển ổn định và bền vững, chú trọng đến hiệu quả đầu tư nhằm mang lại lợi ích về mặt kinh tế, xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường. Do đó, phát triển KCN là việc đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định, KCN hoạt động hiệu quả, doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, mức sống của người lao động được -7- nâng cao, đảm bảo đúng quyền lợi, giữ gìn vệ sinh môi trường sống xung quanh. Vai trò của KCN trong sự nghiệp CNH-HĐH ở Việt Nam 1.
KCN trong sự nghiệp CNH-HĐH ở Việt Nam Đảng ta luôn luôn xác định: CNH-HĐH là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam một lần nữa xác định mục tiêu của CNH-HĐH là: “Xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp” Về mặt lý luận, trên cơ sở tổng kết các quan niệm từ trước tới nay, Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã đưa ra quan niệm mới về CNH-HĐH, đây cũng chính là quan niệm được sử dụng một cách phổ biến ở nước ta trong giai đoạn hiện nay: “CNH-HĐH được hiểu là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, quản lý xã hội và tâm lý từ sử dụng lao động thủ công là chủ yếu sang sử dụng một cách phổ biến lao động với tay nghề có công nghệ và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp, tiến bộ khoa học và công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”. Quan niệm này khẳng định tính tất yếu khách quan của quá trình CNH-HĐH trong thời kỳ quá độ, Đồng thời cho chúng ta thấy được vai trò vô cùng quan trọng của việc phát triển công nghiệp và khoa học công nghệ nhằm thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH.
Tính đến tháng 12/2013 cả nước có 289 KCN (không bao gồm khu chế xuất, khu kinh tế) với tổng diện tích đất tự nhiên 81.000 ha, trong đó, 191 KCN (chiếm 66,08%) đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 54.060 ha và 98 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên 27. Các KCN đã đóng góp hơn 80 tỷ USD kim ngạch xuất - nhập khẩu hàng năm, chiếm khoảng 35% tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu của nền kinh tế. Các KCN thu hút khoảng 472 dự án, với tổng vốn đăng ký 8,742 tỷ USD vốn FDI, chiếm 70% vốn FDI của cả nước, tạo việc làm trực tiếp cho trên 2 triệu lao động. Sau gần 20 năm xây dựng và phát triển các KCN đang từng bước thể hiện rõ vai rò không thể thay thế của nó trong tiến trình CNH-HĐH đất nước.
Các KCN đã góp phần đáng kể vào việc hoàn thiện -8- hệ thống cơ sở hạ tầng, thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung (Bộ Kế hoạch Đầu tư, 2013). Tóm lại, thành công của KCN đã được khẳng định trên thế giới và bước đầu được khẳng định ở Việt Nam, như một đòn bẩy quan trọng để đẩy nhanh tiến trình CNH-HĐH đất nước. KCN là nơi tập trung các nguồn lực để phát triển kinh tế, là nơi diễn ra sự phân công lao động xã hội ở trình độ cao, thực hiện các mối liên kết kinh tế quốc tế. Phát triển KCN là phù hợp với xu thế kinh tế thế giới, phù hợp với chủ trương ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, phát huy năng lực của mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước của Đảng và Nhà nước ta.
Huy động một lượng vốn lớn, từ nhiều nguồn để phát triển kinh tế - Huy động nguồn vốn trong nội bộ nền kinh tế: đây là nguồn vốn có tính chất quyết định, là nhân tố nội lực. Những năm đầu xây dựng KCN, do chưa nhận thức được tầm quan trọng của KCN trong việc huy động nguồn vốn bên trong, chúng ta xem nhẹ việc thu hút các DN trong nước đầu tư vào KCN nên số dự án và tổng vốn đầu tư còn rất hạn chế. Chỉ vài năm gần đây, vai trò của khu vực trong nước mới được chú trọng, dòng vốn ĐTTN trong KCN tăng đáng kể, số dự án trong nước gần bằng với khu vực có vốn ĐTNN. Các KCN thu hút khoảng 472 dự án, với tổng vốn đăng ký 8,742 tỷ USD vốn FDI, chiếm 70% vốn FDI của cả nước, tạo việc làm trực tiếp cho trên 2 triệu lao động.
Kết quả này cho thấy tiềm lực của khu vực kinh tế trong nước và là kết quả của chủ trương phát huy nội lực để xây dựng và phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. - Huy động nguồn vốn của khu vực có vốn ĐTNN: Trong điều kiện nền kinh tế tích lũy nội bộ còn thấp thì thu hút được nhiều vốn ĐTNN là rất quan trọng. KCN là một giải pháp hữu hiệu nhằm huy động vốn của DN có vốn FDI. Thực tế từ khi xây dựng KCN cho đến nay, số dự án và tổng vốn ĐTNN vào KCN không ngừng gia tăng và chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng vốn FDI đầu tư trên cả nước.
Bên cạnh đó, lũy kế đến cuối quý I/2014, các KCN trong cả nước đã thu hút được 5.300 dự án FDI, với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 112 tỷ USD.