Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển kinh tế những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa đã trở thành xu thế tất yếu đối với mọi quốc gia. Kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, Việt Nam đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ đối ngoại và từng bước tham gia sâu rộng vào các định chế khu vực cũng như toàn cầu. Sự mở cửa này mang lại nhiều cơ hội đầu tư và tăng trưởng nhưng đồng thời đặt các doanh nghiệp trong nước trước sức ép cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn đa quốc gia và hàng hóa ngoại nhập.

Trong cơ cấu kinh tế quốc dân, khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) chiếm tỷ trọng áp đảo về số lượng và đóng vai trò then chốt trong việc tạo việc làm, huy động vốn xã hội và đóng góp vào GDP. Tuy nhiên, do phần lớn có quy mô vốn nhỏ, trình độ công nghệ lạc hậu và năng lực quản trị hạn chế, các DNVVN tại Việt Nam đứng trước nguy cơ thua thiệt, mất thị phần hoặc giải thể khi các cam kết mở cửa thị trường và cắt giảm thuế quan có hiệu lực. Xuất phát từ thực tế đó, đề án môn học tập trung giải quyết bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh cho khu vực doanh nghiệp này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề án được xác định gồm ba nội dung chính:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế, đặc trưng, vai trò của DNVVN và các lý thuyết về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh cùng các chiến lược cạnh tranh cơ bản.
  2. Phân tích thực trạng môi trường kinh doanh và đánh giá chi tiết các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của DNVVN tại Việt Nam (chi phí, giá cả, chất lượng, khoa học công nghệ, tài chính, nhân lực, quản trị marketing, kênh phân phối và thương hiệu) trong giai đoạn 1996–2003.
  3. Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của DNVVN Việt Nam trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Đối tượng nghiên cứu của đề án là năng lực cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của DNVVN. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian nền kinh tế Việt Nam trong mối tương quan so sánh với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN) và thế giới, với dữ liệu thực tiễn tập trung trong giai đoạn từ sau khi đổi mới đến các năm 2001–2003.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Đề án xây dựng khung phân tích dựa trên hệ thống lý luận kinh tế học vi mô, quản trị chiến lược và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:

  • Khái niệm và tiêu chí DNVVN: Tác giả căn cứ vào Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ, xác định DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình không quá 300 người. Đề án cũng trích dẫn tài liệu quản trị DNVVN của PGS. Đồng Xuân Ninh (Đại học Kinh tế Quốc dân) để phân định khu vực chính quy và phi chính quy.
  • Lý thuyết về cạnh tranh và các cấp độ cạnh tranh: Đề án tiếp cận quan niệm cạnh tranh từ trường phái cổ điển, Từ điển kinh doanh Anh (1992), luận án tiến sĩ của Nguyễn Quốc Dũng (2000), định nghĩa về sức cạnh tranh của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), định nghĩa năng lực cạnh tranh của Từ điển thuật ngữ kinh tế học (2001) và Báo cáo cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF, 1997). Năng lực cạnh tranh được chia thành 4 cấp độ tương tác mật thiết: quốc gia, ngành, doanh nghiệp và sản phẩm.
  • Mô hình chiến lược và cấu trúc ngành của Michael E. Porter: Tác giả vận dụng 3 chiến lược cạnh tranh tổng quát (Chiến lược chi phí thấp, Khác biệt hóa sản phẩm, Trọng tâm hóa) và Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh (Đối thủ cạnh tranh hiện tại, Nguy cơ từ đối thủ tiềm ẩn, Quyền lực thương lượng của người mua, Quyền lực thương lượng của người cung ứng, Nguy cơ từ sản phẩm thay thế).

Về phương pháp nghiên cứu, đề án sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích định tính, phân tích - tổng hợp số liệu thứ cấp và phương pháp so sánh tương quan đối chiếu. Nguồn dữ liệu được trích xuất từ các báo cáo và khảo sát chính thức của:

  • Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thương mại, Ủy ban Vật giá Chính phủ.
  • Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thông qua khảo sát 500 DNVVN.
  • Ngân hàng Thế giới (WB), Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) và khảo sát từ các công ty Nhật Bản tại 10 quốc gia ASEAN.
  • Các ấn phẩm chuyên ngành: Tạp chí Thương mại, Tạp chí Thị trường Giá cả, Thời báo Kinh tế, Báo Kinh tế Việt Nam và Thế giới.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chương mở đầu tập trung làm rõ tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế và bản chất lý luận của năng lực cạnh tranh. Tác giả chỉ ra rằng thương mại thế giới đã tăng trưởng vượt bậc từ 50 tỷ USD (đầu thập niên 1950) lên hơn 5.500 tỷ USD vào năm 1999, với tốc độ tăng trưởng mậu dịch quốc tế gấp 1,2 đến 1,5 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đối với Việt Nam, công cuộc đổi mới từ năm 1986 đã mang lại kết quả rõ nét: năm 2002 kim ngạch xuất khẩu tăng 10% so với 2001, có 20 mặt hàng đạt kim ngạch trên 100 triệu USD/năm, xuất khẩu may mặc sang Mỹ đạt 900 triệu USD, thủy sản đạt 2,03 tỷ USD, xuất khẩu gạo đạt 3,25–3,55 triệu tấn (đứng thứ 2 thế giới).

Tác giả xác định 5 cơ hội lớn khi Việt Nam hội nhập: (1) Chính sách kinh tế đối ngoại chuyển dịch theo hướng tự do hóa; (2) Tranh thủ khai thác tài nguyên thiên nhiên; (3) Tận dụng nguồn lao động dồi dào, giá rẻ và khả năng tiếp thu công nghệ (Việt Nam đứng thứ 7/10 ASEAN về môi trường kinh doanh theo đánh giá của các công ty Nhật Bản năm 2001); (4) Môi trường chính trị - xã hội ổn định, GDP tăng gấp đôi sau hơn 17 năm đổi mới; (5) Kinh nghiệm tích lũy sau thời gian dài cải cách. Song song đó là 5 thách thức lớn: tiềm lực vật chất yếu và nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ; sức cạnh tranh sản phẩm công nghiệp thấp chịu áp lực mở cửa thị trường theo AFTA và WTO; hệ thống tài chính ngân hàng non yếu; nguy cơ an ninh kinh tế - văn hóa từ viễn thông toàn cầu; và sức ép chính trị - kinh tế từ các quốc gia lớn.

Về phân loại theo quy mô, đề án tổng hợp tiêu thức vốn và lao động của DNVVN tại Việt Nam theo văn bản quản lý:

Lĩnh vực hoạt động Quy mô vốn tối đa (đồng) Số lao động tối đa (người)
Sản xuất công nghiệp và xây dựng 10 tỷ (DN nhỏ: 1 tỷ) 500 (DN nhỏ: 100)
Sản xuất nông lâm nghiệp và hải sản 10 tỷ (DN nhỏ: 1 tỷ) 1.000 (DN nhỏ: 200)
Thương mại và dịch vụ 5 tỷ (DN nhỏ: 500 triệu) 250 (DN nhỏ: 50)

Chương I phân tích 7 vai trò quan trọng của DNVVN: chiếm đa số (>90% tổng số doanh nghiệp tại nhiều nước; tại Việt Nam chiếm 65,9% doanh nghiệp nhà nước và 33,6% doanh nghiệp FDI); đóng góp 24–25% GDP cả nước, 31% giá trị sản xuất công nghiệp, 78% mức bán lẻ, 64% khối lượng vận chuyển; tạo việc làm cho 7,8 triệu lao động phi nông nghiệp (chiếm 79,2% lao động phi nông nghiệp và 22,5% tổng lực lượng lao động cả nước); tạo tính năng động kinh tế; huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư; chuyển dịch cơ cấu nông thôn; và là nơi đào tạo doanh nhân.

Chương II: Thực trạng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay

Chương II đánh giá toàn diện môi trường và thực trạng hoạt động của DNVVN qua các số liệu thứ cấp:

  1. Môi trường cạnh tranh quốc tế và trong nước: Việt Nam mở rộng tham gia ASEM (1995), APEC (1999), cam kết gia nhập WTO (2005) và AFTA (2006). Độ phụ thuộc mậu dịch đối ngoại tăng từ 65% (1995) lên 100% (2000), độ phụ thuộc xuất khẩu tăng từ 26% lên 48%, nhập khẩu tăng từ 39% lên 52%. Tuy nhiên, xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia theo WEF của Việt Nam còn ở nhóm cuối:
Năm Xếp hạng của Việt Nam Số lượng quốc gia đánh giá
1998 49 53
1999 39 53
2000 48 59
2001 53 59
2002 65 80

Về khung pháp lý, khảo sát 12 tiêu chí cho thấy khu vực doanh nghiệp dân doanh chịu nhiều bất lợi nhất: chỉ có 25% tiêu chí xếp loại A (thuận lợi nhất), trong khi có tới 66,7% tiêu chí xếp loại C (kém thuận lợi nhất). Ngược lại, DNNN có 50% tiêu chí loại A và DN FDI có 41,7% tiêu chí loại A.

  1. Chi phí và giá cả: Khảo sát của VCCI trên 500 DNVVN cho thấy điểm tự đánh giá khả năng cạnh tranh với đối thủ nước ngoài chỉ đạt 2,1/5 điểm. Có 29% DNVVN sử dụng trên 40% nguyên phụ liệu nhập khẩu (một số ngành lên tới 70–80%). Chi phí đầu vào của DNVVN Việt Nam cao hơn 30–50% so với khối ASEAN, cao hơn 50% so với thế giới và đã tăng 33,4% trong giai đoạn 1996–2002. Chi phí trung gian chịu áp lực tăng giá: tiền công tăng 75%, thuế sử dụng đất tăng 90,9%, ngoại tệ tăng 20,2%, xăng dầu tăng 42,8%, nước tăng 130%, điện tăng 37,5%. So sánh chi phí đầu tư tháng 12/2002 tại các đô thị khu vực thể hiện chi phí vận chuyển container 40 feet tại Hà Nội (1.500 USD) và TP.HCM (1.400 USD) cao hơn nhiều so với Bangkok (500–600 USD).

    Về giá cả, giá xi măng sản xuất tại Việt Nam là 50 USD/tấn, trong khi xi măng Thái Lan nhập về cảng Việt Nam chịu đủ thuế và cước chỉ 36 USD/tấn; khi AFTA giảm thuế, giá nhập khẩu sẽ xuống 32 USD/tấn (rẻ hơn 56% so với xi măng nội địa). Mặt hàng gạo xuất khẩu loại 5% tấm của Việt Nam năm 1996 có giá 300 USD/tấn, thấp hơn 21,1% so với giá 364 USD/tấn của Thái Lan do hạn chế về uy tín và quản lý bán hàng.

  2. Chất lượng và các yếu tố nguồn lực:

    • Chất lượng: Xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu thô và gia công (năm 2001 dầu thô chiếm 25% tổng xuất khẩu), giá trị gia tăng thấp; nhiều sản phẩm cơ khí đơn giản, linh kiện mau hoen gỉ, máy móc tiêu hao nhiên liệu.
    • Khoa học công nghệ: Lạc hậu 30–50 năm; công nghệ thấp chiếm 60–70%, hiện đại chỉ chiếm 30–40%. Thiết bị có nguồn gốc từ Liên Xô (26%), Đông Âu (24%), ASEAN/Bắc Âu (gần 20%). Tỷ lệ cơ khí hóa, tự động hóa dưới 10%; 38% máy móc thuộc diện thanh lý vẫn được sử dụng. Khảo sát của 24 công ty Nhật Bản chấm điểm trình độ KHCN của DNVVN Việt Nam đạt 3,5/10 điểm (chỉ xếp trên Myanmar 3,4; Lào 3,0; Campuchia 2,6).
    • Nguồn vốn: 55% DNVVN thiếu vốn; cơ cấu nguồn vốn gồm vốn tự tài trợ chiếm 67,5%, vay ngân hàng chiếm 42,5%, các nguồn khác chiếm 20%. Tín dụng dành cho DNVVN chỉ chiếm 29% tổng dư nợ do thiếu tài sản thế chấp. Vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp tăng từ 0,819 tỷ đồng (1992) lên 1,742 tỷ đồng (2002) và 2,6 tỷ đồng (5 tháng đầu năm 2003). Trang bị vốn bình quân chỉ đạt 63,2 triệu đồng/lao động.
    • Nguồn nhân lực: Năm 2002, DNVVN thu hút 4.543.944 lao động (tăng 20,15% so với 1996, chiếm 14% lao động xã hội). Tỷ trọng lao động phân bổ: công nghiệp 45,63%, thương mại dịch vụ 37,42%, ngành khác 16,95%. Trình độ chủ doanh nghiệp: THCS chiếm 40–45%, THPT/CĐ/ĐH chiếm 35–40%, tiểu học chiếm 10–15%; chỉ có 2–3% được đào tạo quản lý chính quy, 20–30% qua tập huấn ngắn hạn, còn lại quản lý theo kinh nghiệm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 22,2% (74% lao động thủ công).
  3. Quản trị chiến lược, phân phối, thương hiệu và thông tin hội nhập:

    • Chiến lược thị trường: Tập trung vào 10 thị trường xuất khẩu lớn nhưng thiếu chiến lược dài hạn; ngành dệt may và da giày phụ thuộc gia công (da giày phụ thuộc 80% vào thị trường EU); ngành gạo thiếu thị trường châu Phi do không có khả năng cung cấp tín dụng thương mại.
    • Kênh phân phối: Trong nước thiết kế tự phát, giá bị đội qua nhiều khâu trung gian. Xuất khẩu trực tiếp chiếm trên 80% kim ngạch (cà phê 90%, chè 93%, dệt may 81%, thủ công mỹ nghệ 92% năm 2001) nhưng chỉ giao hàng tới nhà nhập khẩu, chỉ có 19,4% doanh nghiệp có đại lý ở nước ngoài.
    • Thương hiệu và Marketing: Đến năm 2003 có 57% DNVVN quan tâm xây dựng thương hiệu; 70% doanh nghiệp chi dưới 5% ngân sách cho thương hiệu. Trong 80.000 thương hiệu đăng ký bảo hộ trong nước, chỉ 15% thuộc sở hữu của doanh nghiệp Việt Nam. Marketing chủ yếu đồng nhất với bán hàng đơn thuần.
    • Hiểu biết hội nhập: Doanh nghiệp chưa chủ động nắm bắt biểu thuế CEPT/AFTA, chưa sử dụng giấy chứng nhận xuất xứ C/O Form D (yêu cầu hàm lượng nội địa hóa ≥40%) và chưa tham gia các chương trình như Ưu đãi hội nhập AISP hay Hợp tác công nghiệp AICO.

Chương III: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp

Dựa trên kết cấu đề án được công bố ở phần mở đầu, Chương III tập trung xây dựng hệ thống giải pháp xuất phát từ các điểm nghẽn thực tế đã phân tích:

  • Nâng cao hiệu quả kiểm soát chi phí đầu vào và chi phí trung gian để hạ giá thành sản phẩm.
  • Đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao tỷ lệ tự động hóa và chất lượng sản phẩm xuất khẩu theo hướng chế biến sâu.
  • Cải thiện cơ cấu nguồn vốn, nâng cao năng lực tiếp cận tín dụng chính thức và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định/vốn lưu động.
  • Đào tạo chuẩn hóa năng lực quản trị của đội ngũ chủ doanh nghiệp và nâng cao tay nghề kỹ thuật cho người lao động.
  • Chuyên nghiệp hóa hoạt động quản trị chiến lược, thiết kế mạng lưới phân phối đa tầng, xây dựng và đăng ký bảo hộ thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế.
  • Khai thác hiệu quả các ưu đãi xuất xứ (C/O Form D), các hiệp định thương mại tự do và cơ chế hợp tác khu vực ASEAN.

Kết quả và đóng góp

Đề án môn học đã mang lại các kết quả và phát hiện nghiên cứu cụ thể gắn liền với hệ thống số liệu thực tiễn:

  1. Xác định bức tranh năng lực cạnh tranh tổng thể của khối DNVVN Việt Nam giai đoạn đầu những năm 2000: chỉ số tự đánh giá cạnh tranh quốc tế thấp (2,1/5 điểm), trình độ công nghệ ở mức trung bình - thấp trong khu vực (3,5/10 điểm theo thang đo của các công ty Nhật Bản), và gánh nặng chi phí trung gian trong nước (cước vận tải container, cước viễn thông) cao hơn đáng kể so với các nước láng giềng.
  2. Đo lường mức độ bất bình đẳng về môi trường kinh doanh giữa khu vực dân doanh với DNNN và FDI qua bộ 12 tiêu chí so sánh, làm rõ những rào cản về tiếp cận vốn, đất đai và thủ tục hành chính.
  3. Chỉ ra những lỗ hổng trong việc thực thi chiến lược kinh doanh của DNVVN: tỷ lệ phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu cao (tới 70–80% ở một số ngành), tình trạng gia công thụ động làm giảm giá trị gia tăng, sự thiếu vắng hệ thống phân phối tại thị trường nước ngoài (chỉ 19,4% có đại lý) và mức độ quan tâm đến bảo hộ thương hiệu còn rất thấp (chỉ chiếm 15% trong tổng số thương hiệu đăng ký).

Đóng góp của đề án thể hiện ở việc kết nối giữa khung lý thuyết kinh điển của Michael Porter về cấu trúc ngành, chiến lược cạnh tranh với hệ thống số liệu điều tra thực tế của các tổ chức uy tín (VCCI, WB, WEF, Tổng cục Thống kê) để đưa ra bức tranh toàn cảnh về điểm mạnh, điểm yếu của DNVVN trước thềm gia nhập AFTA và WTO.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề án được thực hiện trong phạm vi một đề án môn học chuyên ngành Quản lý kinh tế, do đó phương pháp phân tích chủ yếu dựa trên tổng hợp số liệu thứ cấp và các điều tra sẵn có từ các cơ quan hữu quan, chưa tiến hành điều tra khảo sát sơ cấp độc lập. Ngoài ra, các số liệu kinh tế và bảng xếp hạng phản ánh bối cảnh thực tiễn của giai đoạn 1996–2003.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát định lượng trực tiếp về tác động cụ thể của việc cắt giảm thuế quan sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO và thực thi đầy đủ các cam kết AFTA; đồng thời xây dựng mô hình hồi quy định lượng đo lường mức độ đóng góp của từng yếu tố (vốn, công nghệ, nhân lực, thương hiệu) tới tỷ suất sinh lời và thị phần của DNVVN trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Đề án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên các ngành Quản lý kinh tế, Quản trị kinh doanh, Kinh tế quốc tế và Thương mại khi nghiên cứu về DNVVN và tác động của hội nhập kinh tế giai đoạn chuyển tiếp.
  • Người làm đề tài khóa luận, nghiên cứu sinh tìm kiếm phương pháp luận về việc ứng dụng mô hình 5 lực lượng cạnh tranh và 3 chiến lược cạnh tranh của Michael Porter vào phân tích một nhóm đối tượng doanh nghiệp cụ thể.
  • Các nhà quản trị DNVVN muốn rà soát lại các điểm nghẽn cơ bản về quản trị chi phí, chuỗi cung ứng, thương hiệu và tận dụng các quy tắc xuất xứ hàng hóa trong thương mại quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP được trích dẫn trong đề án, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam được định nghĩa như thế nào? Theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001, DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh theo pháp luật hiện hành có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình không quá 300 người. Trong từng lĩnh vực, tiêu chí được quy định cụ thể: sản xuất công nghiệp và xây dựng có vốn tối đa 10 tỷ đồng và 500 lao động; nông lâm hải sản có vốn tối đa 10 tỷ đồng và 1.000 lao động; thương mại dịch vụ có vốn tối đa 5 tỷ đồng và 250 lao động.

2. Điểm đánh giá trình độ khoa học công nghệ của DNVVN Việt Nam so với các nước ASEAN theo khảo sát của các công ty Nhật Bản là bao nhiêu? Theo kết quả điều tra của 24 công ty Nhật Bản tại 10 nước ASEAN, theo thang điểm 10, trình độ KHCN của DNVVN Việt Nam đạt 3,5 điểm, đứng thứ 7 trong khu vực, chỉ xếp trên Myanmar (3,4 điểm), Lào (3,0 điểm) và Campuchia (2,6 điểm).

3. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo và trình độ học vấn của các chủ DNVVN tại thời điểm nghiên cứu như thế nào? Năm 2002, tỷ lệ lao động đang làm việc tại các DNVVN đã qua đào tạo chỉ chiếm 22,2% (74% là lao động thủ công). Về phía chủ doanh nghiệp, có 40–45% có trình độ THCS, 35–40% có trình độ THPT/CĐ/ĐH, 10–15% có trình độ tiểu học hoặc chưa đọc thông viết thạo; chỉ có 2–3% được đào tạo kiến thức quản lý chính quy và 20–30% được tập huấn ngắn hạn dưới 6 tháng.

4. Khảo sát của VCCI trên 500 DNVVN chỉ ra những hạn chế gì về khả năng cạnh tranh và nguyên phụ liệu đầu vào? Khảo sát của VCCI cho thấy các DNVVN chỉ đạt 2,1/5 điểm về khả năng cạnh tranh với đối thủ nước ngoài. Có tới 29% doanh nghiệp sử dụng trên 40% nguyên phụ liệu nhập khẩu (có ngành lên tới 70–80%), khiến chi phí đầu vào của DNVVN cao hơn 30–50% so với khối ASEAN và cao hơn 50% so với mức trung bình thế giới.

5. Vì sao mặt hàng gạo xuất khẩu của Việt Nam thường có giá bán thấp hơn gạo Thái Lan cùng phẩm cấp? Mặc dù khối lượng xuất khẩu lớn (năm 2002 đạt 3,25 triệu tấn, đứng thứ 2 thế giới), giá gạo loại 5% tấm của Việt Nam năm 1996 chỉ đạt 300 USD/tấn so với 364 USD/tấn của Thái Lan (thấp hơn 21,1%). Nguyên nhân là do hạn chế về uy tín thương hiệu, chất lượng đồng đều và hiệu quả quản lý bán hàng của các doanh nghiệp trong nước.

Kết luận

Đề án môn học đã phản ánh một cách có hệ thống và chi tiết về thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong giai đoạn bản lề của tiến trình hội nhập quốc tế (1996–2003). Thông qua việc đối chiếu khung lý thuyết quản trị chiến lược với các dữ liệu thống kê chuyên ngành, tác giả đã làm rõ những điểm yếu cốt tử của DNVVN về công nghệ lạc hậu, thiếu hụt nguồn vốn, chất lượng nhân lực thấp và tư duy thị trường manh mún. Công trình là tài liệu học thuật có giá trị tư liệu cao, phác thảo rõ nét những thách thức nền tảng mà cộng đồng doanh nghiệp dân doanh Việt Nam phải đối mặt khi mở cửa hội nhập khu vực và toàn cầu.