Tổng quan nghiên cứu

Khai thác than là ngành công nghiệp mũi nhọn đóng góp then chốt vào an ninh năng lượng quốc gia, đặc biệt tại tỉnh Quảng Ninh – nơi tập trung bể than lớn nhất Việt Nam với tổng trữ lượng ước tính đạt khoảng 48,7 tỷ tấn tính đến độ sâu âm 350 mét và cung cấp trên 90% sản lượng than toàn quốc. Tuy nhiên, hoạt động khai thác quy mô lớn cũng tạo áp lực nặng nề lên môi trường sinh thái địa phương khi mỗi năm thải ra tự nhiên hơn 30 triệu mét khối nước thải mỏ chưa qua xử lý triệt để. Nguồn nước thải phát sinh từ quá trình khai thác than hầm lò chiếm tỷ trọng 48% tổng sản lượng khai thác và mang đặc tính ô nhiễm phức tạp với độ pH axit, hàm lượng chất rắn lơ lửng cao, chứa nhiều ion kim loại nặng hòa tan như sắt và mangan.

Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu phân tích, đánh giá toàn diện hiện trạng công nghệ xử lý nước thải hầm lò tại các đơn vị trực thuộc Tổng công ty Đông Bắc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Thông qua dữ liệu khảo sát và kết quả đo đạc thực nghiệm từ tháng 11/2014 đến tháng 8/2015, nghiên cứu đi sâu phân tích hệ thống xử lý nước thải tại mỏ Dân Chủ - Quảng La thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thăng Long. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp kỹ thuật cải tiến công nghệ, ứng dụng hợp chất mới nhằm nâng cao hiệu suất làm sạch, tối ưu hóa chi phí vận hành và giảm thiểu rủi ro sinh thái đối với lưu vực tiếp nhận ven biển vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết hóa lý về sự hình thành dòng thải axit mỏ (Acid Mine Drainage - AMD). Cơ chế chính phát sinh nước thải axit hầm lò bắt nguồn từ phản ứng oxy hóa khoáng vật Pyrit sắt ($FeS_2$) khi tiếp xúc trực tiếp với oxy trong không khí và độ ẩm theo phản ứng:

$$FeS_2 + \frac{7}{2}O_2 + H_2O \rightarrow Fe^{2+} + 2SO_4^{2-} + 2H^+$$

Dưới tác động của vi khuẩn tự dưỡng và quá trình thủy phân, các ion $Fe^{2+}$ tiếp tục bị oxy hóa tạo thành hydroxit sắt không tan và giải phóng thêm ion $H^+$, làm giảm mạnh độ pH của nước xuống mức từ 2,0 đến 4,0. Môi trường axit mạnh thúc đẩy quá trình hòa tan các khoáng vật chứa sắt ($FeCO_3$, $Fe_2O_3$) và mangan ($MnO_2$), dẫn đến nồng độ kim loại hòa tan trong dòng thải tăng cao đột biến.

Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng lý thuyết keo tụ - tạo bông và lắng trọng lực để loại bỏ các hạt than mịn, khoáng sét có kích thước siêu nhỏ (dưới 10 µm chiếm tới 80% thành phần chất rắn lơ lửng). Về mặt đánh giá công nghệ, nghiên cứu áp dụng khung thẩm định và đánh giá công nghệ môi trường (Environmental Technology Verification - ETV và Environmental Technology Assessment - ETA) theo hướng dẫn của Tổng cục Môi trường ban hành năm 2011. Hệ thống đánh giá dựa trên bộ tiêu chí lượng hóa 100 điểm, bao gồm 4 nhóm chính: Tiêu chí kỹ thuật (50 điểm), Tiêu chí kinh tế (25 điểm), Tiêu chí môi trường (15 điểm) và Tiêu chí xã hội (10 điểm).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng hệ phương pháp đa ngành kết hợp chặt chẽ giữa khảo sát thực địa, lấy mẫu quan trắc phân tích phòng thí nghiệm và mô hình hóa tính toán công nghệ. Cỡ mẫu nghiên cứu được thu thập đồng bộ tại 5 đơn vị khai thác than hầm lò tiêu biểu thuộc Tổng công ty Đông Bắc gồm: Mỏ 35 (Quang Hanh), Mỏ 86 (Dương Huy), Mỏ 91 (Uông Bí), Mỏ 618 (Đông Triều) và Mỏ 790 (Mông Dương), cùng đối tượng nghiên cứu sâu là trạm xử lý nước thải mỏ Dân Chủ - Quảng La (Hoành Bồ).

Quy trình quan trắc được triển khai qua 4 đợt đại diện cho mùa khô và mùa mưa: Đợt 1 (ngày 05/11/2014), Đợt 2 (ngày 05/02/2015), Đợt 3 (ngày 06/05/2015) và Đợt 4 (ngày 06/08/2015). Công tác lấy mẫu và bảo quản tuân thủ nghiêm ngặt Thông tư số 10/2007/TT-BTNMT và tiêu chuẩn TCVN 5999:1995. Tại mỗi vị trí, 14 chỉ tiêu môi trường đặc trưng được phân tích tại Phòng thí nghiệm của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh, bao gồm: pH (TCVN 6492:2011), TSS (SMEWW 2540D:2005), TDS (SMEWW 2540C:2005), COD (SMEWW 5220B:2005), $BOD_5$ (TCVN 6001-1:2008), Fe tổng (TCVN 6177:1996), Mn (TCVN 6193:1996), dầu mỡ khoáng (TCVN 5070-1995) cùng các kim loại nặng độc hại như Pb, Cu, Cd, As, Hg. Các kết quả phân tích được đối chiếu trực tiếp với Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải công nghiệp QCVN 40:2011/BTNMT cột B.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích chuỗi số liệu quan trắc qua 4 đợt tại các mỏ than hầm lò thuộc Tổng công ty Đông Bắc ghi nhận những đặc trưng ô nhiễm nổi bật sau:

Thứ nhất, nước thải hầm lò tại tất cả các mỏ đều bị axit hóa đáng kể. Giá trị pH trung bình dao động trong khoảng 3,5 đến 5,0, thấp hơn ngưỡng giới hạn cho phép của QCVN 40:2011/BTNMT (từ 5,5 đến 9,0) từ 1,1 đến 1,6 lần. Mức độ axit hóa diễn ra trầm trọng nhất vào mùa khô (tháng 11 và tháng 2) khi nước thải mỏ 86 và mỏ 618 có độ pH chạm đáy 3,5. Vào mùa mưa (tháng 5 và tháng 8), giá trị pH có xu hướng tăng nhẹ lên mức 4,5 đến 5,0 nhờ sự pha loãng của nước ngầm và dòng chảy bề mặt. Mỏ than 91 ghi nhận giá trị pH ổn định nhất với mức trung bình 4,6 qua các đợt đo.

Thứ hai, hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt ngưỡng quy chuẩn nghiêm trọng. Nồng độ TSS dao động từ 460 mg/l đến 826 mg/l, vượt quy chuẩn xả thải cho phép (100 mg/l) từ 4,6 đến 8,2 lần. Nồng độ TSS cao nhất được ghi nhận tại Mỏ 618 vào đợt 2 đạt 826 mg/l và Mỏ 35 vào đợt 2 đạt 816 mg/l. Nước thải mỏ 35 có giá trị TSS trung bình cao nhất toàn khu vực với 687 mg/l, trong khi mỏ 86 thấp nhất với 601,5 mg/l.

Thứ ba, nồng độ các ion kim loại sắt (Fe) và mangan (Mn) hòa tan ở mức rất cao. Hàm lượng Fe tổng số trong nước thải dao động từ 4,88 mg/l đến 12,9 mg/l (vượt quy chuẩn tối đa 2,58 lần so với ngưỡng 5,0 mg/l), ghi nhận đỉnh điểm tại Mỏ 86 trong đợt 1. Hàm lượng Mn dao động từ 1,57 mg/l đến 6,8 mg/l (vượt quy chuẩn từ 1,57 đến 6,8 lần so với ngưỡng 1,0 mg/l), cao nhất tại Mỏ 618 và Mỏ 91. Hàm lượng dầu mỡ khoáng phát sinh từ máy móc khoan nổ mìn và thiết bị vận tải hầm lò dao động từ 5,12 mg/l đến 16,25 mg/l, vượt ngưỡng 10 mg/l ở hầu hết các đợt quan trắc mùa khô.

Thứ tư, hàm lượng các kim loại có độc tính cao như Asen (As), Cadimi (Cd), Thủy ngân (Hg) đều ở mức không phát hiện (KPH) hoặc thấp hơn nhiều so với giới hạn cho phép. Nhu cầu oxy sinh hóa ($BOD_5$) duy trì dưới 48,3 mg/l và tổng Coliform dưới 3.500 MPN/100ml, khẳng định nước thải mỏ hầm lò không bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh vật gây bệnh.

Thảo luận kết quả

Sự biến thiên chất lượng nước thải theo mùa phản ánh rõ nét tác động thủy văn vùng than Quảng Ninh. Vào mùa mưa, lưu lượng nước chảy qua các vỉa than tăng cao giúp pha loãng nồng độ ion $H^+$ và kim loại nặng, làm giảm nhẹ độ axit và nồng độ sắt tự do. Tuy nhiên, tốc độ dòng chảy mạnh cũng cuốn theo lượng lớn hạt than mịn và sét lơ lửng, khiến lượng bùn thải cần xử lý tăng gấp 2 đến 3 lần so với mùa khô.

Khi phân tích dữ liệu dưới dạng bảng thống kê chéo và biểu đồ tiến trình thời gian, có thể thấy rõ các trạm xử lý nước thải hiện hữu sử dụng phương pháp trung hòa bằng sữa vôi $Ca(OH)_2$ kết hợp hóa chất keo tụ PAC/Polymer thông thường bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Tại mỏ Dân Chủ - Quảng La (công suất khai thác dự kiến 505.000 tấn/năm), hệ thống xử lý thường xuyên gặp sự cố đóng cặn canxi cacbonat ($CaCO_3$) tại các đường ống nạp vôi, gây tắc nghẽn cục bộ và làm dao động nồng độ pH đầu ra. Hiệu suất lắng của các bể lắng ngang truyền thống chỉ đạt khoảng 65% đến 75%, khiến nước sau xử lý vào các thời điểm cao tải vẫn còn độ đục và màu vàng đục của hydroxit sắt kết tủa mịn chưa kịp lắng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá công nghệ và thực trạng vận hành tại mỏ Dân Chủ - Quảng La, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý đồng bộ:

Thứ nhất, cải tiến dây chuyền công nghệ xử lý bằng việc tích hợp hóa chất keo tụ thế hệ mới KABENLIS kết hợp cùng polyme trợ lắng. Hợp chất KABENLIS có khả năng tạo phản ứng keo tụ nhanh ở dải pH rộng, tăng cường tốc độ kết bông hydroxit sắt và mangan, giúp giảm 20% đến 30% lượng vôi tôi tiêu thụ và hạ giá thành xử lý hóa chất trên mỗi mét khối nước thải.

Thứ hai, nâng cấp cụm công trình cơ học bằng việc bổ sung Bể điều hòa kết hợp lắng sơ bộ và thay thế bể lắng ngang thông thường bằng Thiết bị lắng tấm nghiêng Lamella cao tải. Thiết bị lắng Lamella giúp tăng diện tích lắng hiệu dụng lên 3 đến 4 lần, nâng hiệu suất khử TSS lên trên 92%, đưa hàm lượng chất rắn lơ lửng sau xử lý về dưới 30 mg/l. Sau lắng Lamella, dòng nước được dẫn qua Thiết bị lọc áp lực trọng lực tự động và Bể khử trùng chứa nước sạch trước khi xả ra môi trường.

Thứ ba, đầu tư hệ thống tự động hóa khâu định lượng hóa chất và kiểm soát trực tuyến chỉ số pH, độ đục tại cửa xả. Giải pháp này giúp tiết kiệm 15% điện năng tiêu thụ và tối ưu hóa chi phí nhân công vận hành cho đơn vị quản lý là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thăng Long trong giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ tư, đối với cơ quan quản lý nhà nước (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh) và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tổng công ty Đông Bắc: Cần xây dựng quy chế tái sử dụng nước thải mỏ sau xử lý để phục vụ dập bụi khai trường, làm mát máy khấu và tuyển than, hướng tới mục tiêu tuần hoàn tối thiểu 40% lượng nước thải mỏ trên toàn địa bàn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

Nhóm thứ nhất là cán bộ kỹ thuật, kỹ sư vận hành và ban quản lý môi trường tại các doanh nghiệp khai thác khoáng sản than hầm lò. Luận văn cung cấp toàn bộ quy trình tính toán kích thước công trình, định mức hóa chất KABENLIS và phương án vận hành tối ưu cho trạm xử lý nước thải công suất từ 1.000 đến 5.000 $m^3$/ngày đêm.

Nhóm thứ hai là các kỹ sư tư vấn thiết kế công nghệ môi trường. Tài liệu cung cấp bản vẽ sơ đồ công nghệ module hóa, thông số kỹ thuật chi tiết của thiết bị lắng Lamella, bể lọc trọng lực tự động và khái toán tổng mức đầu tư xây dựng thực tế.

Nhóm thứ ba là cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Quảng Ninh và các tỉnh có hoạt động khai khoáng. Luận văn là cơ sở tham chiếu tin cậy để thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và cấp phép xả thải công nghiệp.

Nhóm thứ tư là các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật môi trường, Công nghệ mỏ, Địa chất công trình. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận đánh giá công nghệ môi trường (ETV) và đặc trưng hóa lý của dòng thải axit mỏ tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Đặc tính ô nhiễm nguy hại nhất của nước thải than hầm lò là gì? Nước thải mỏ than hầm lò nguy hại nhất ở tính axit mạnh (pH thường xuyên từ 3,5 đến 5,0) kết hợp với hàm lượng sắt tổng số (lên tới 12,9 mg/l), mangan (lên tới 6,8 mg/l) và tổng chất rắn lơ lửng TSS (lên tới 826 mg/l). Nếu xả thẳng ra tự nhiên, dòng axit sẽ hòa tan kim loại nặng, hủy hoại hệ sinh thái thủy sinh và gây bồi lắng dòng chảy sông suối.

Tại sao phương pháp trung hòa bằng đá vôi truyền thống thường không đạt hiệu quả lâu dài? Phương pháp dùng đá vôi ($CaCO_3$) có chi phí rẻ nhưng lớp bề mặt đá vôi nhanh chóng bị bao bọc bởi màng kết tủa $CaSO_4$ và hydroxit sắt $Fe(OH)_3$, làm mất tính hoạt hóa bề mặt. Do đó, sau một thời gian ngắn vận hành, khả năng trung hòa axit giảm mạnh và nước thải đầu ra vẫn mang tính axit.

Hợp chất KABENLIS mang lại ưu thế kỹ thuật gì trong quy trình xử lý? KABENLIS đóng vai trò là chất trợ đông tụ và keo tụ chuyên dụng, tạo ra các bông cặn hydroxit kim loại có kích thước lớn và độ đặc cao. Việc ứng dụng KABENLIS giúp rút ngắn 40% thời gian lắng, giảm thiểu hiện tượng đóng cặn đường ống của vôi tôi và giảm thể tích bùn thải phát sinh cần xử lý cơ học.

Thiết bị lắng Lamella có ưu điểm gì vượt trội so với bể lắng ngang truyền thống tại các vùng mỏ? Thiết bị lắng tấm nghiêng Lamella bố trí các vách nghiêng góc 60 độ giúp thu hẹp quãng đường lắng của hạt cặn, tăng diện tích lắng hiệu dụng gấp 3 đến 4 lần trên cùng một diện tích mặt bằng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các mỏ than vùng đồi núi Quảng Ninh nơi quỹ đất bằng phẳng cho xây dựng trạm xử lý vô cùng hạn hẹp.

Nước thải hầm lò sau khi xử lý đạt chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT có thể tái sử dụng vào việc gì? Nước sau xử lý đạt cột B hoặc cột A QCVN 40 có thể tái tuần hoàn hoàn toàn cho các công đoạn sản xuất mỏ như: dập bụi các tuyến đường vận chuyển than, cấp nước tuyển rửa than, làm mát hệ thống máy móc ngầm và tưới cây hoàn nguyên môi trường bãi thải.

Kết luận

  1. Nghiên cứu đã đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng nước thải tại 5 mỏ than hầm lò thuộc Tổng công ty Đông Bắc, chỉ rõ nguồn nước bị axit hóa (pH từ 3,5 đến 5,0), ô nhiễm nặng chất rắn lơ lửng TSS (460 - 826 mg/l) và kim loại sắt, mangan.
  2. Xác định các chỉ tiêu độc tính như As, Cd, Hg và vi sinh Coliform đều nằm trong giới hạn an toàn, khẳng định trọng tâm xử lý nước thải than hầm lò là khử axit, keo tụ loại bỏ TSS và kết tủa kim loại Fe, Mn.
  3. Luận văn đã ứng dụng thành công khung đánh giá công nghệ ETV, chỉ rõ các điểm nghẽn về mặt kỹ thuật - kinh tế của hệ thống xử lý nước thải tại mỏ Dân Chủ - Quảng La thuộc Công ty TNHH MTV Thăng Long.
  4. Đề xuất giải pháp cải tiến công nghệ mang tính khả thi cao: tích hợp hóa chất KABENLIS, nâng cấp cụm bể điều hòa, ứng dụng module lắng tấm nghiêng Lamella và lọc trọng lực tự động giúp nước đầu ra đạt chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT cột B ổn định.
  5. Để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững ngành than gắn liền với bảo vệ vịnh Hạ Long, các đơn vị sản xuất cần khẩn trương triển khai nâng cấp công nghệ theo lộ trình đề xuất, kết hợp lắp đặt trạm quan trắc tự động và tái sử dụng tối thiểu 40% lưu lượng nước sau xử lý.