MỞ ĐẦU Trong công cuộc đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt đƣợc những thành tựu quan trọng cả về kinh tế và xã hội. Cùng với nhịp độ tăng trƣởng kinh tế cao nhiều vấn đề môi trƣờng cấp bách đang đặt ra, nếu không đƣợc giải quyết thoả đáng và kịp thời thì sẽ cản trở, làm chậm lại tốc độ tăng trƣởng kinh tế và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, đe dọa nghiêm trọng sự phát triển bền vững của đất nƣớc. Trong những năm gần đây, các ngành công nghiệp Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò rất quan trọng, trong đó có ngành công nghiệp sản xuất giấy. Song song với những thuận lợi còn rất nhiều những khó khăn, thách thức mà ngành giấy Việt Nam cần phải đối mặt trong thời kì hội nhập: công nghệ lạc hậu, sản lƣợng thấp, lực lƣợng lao động cồng kềnh và trình độ thấp, thiếu nguồn nguyên liệu, vốn, cạnh tranh tăng cao và đặc biệt là ô nhiễm môi trƣờng.
Do đặc trƣng của ngành là sử dụng lƣợng lớn nguyên liệu thô, năng lƣợng, nƣớc và các hóa chất trong quá trình sản xuất nên tạo ra một lƣợng lớn chất thải (nƣớc thải, khí thải và chất thải rắn) có nguy cơ gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng nếu không đƣợc xử lý. Đặc biệt là nƣớc thải có hàm lƣợng các chất ô nhiễm cao và khó xử lý. Hiện nay, môi trƣờng ở các cơ sở sản xuất giấy này ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng, đòi hỏi cần phải có các biện pháp giải quyết hơn bao giờ hết. Tại các nƣớc tiên tiến, để bảo vệ rừng và môi trƣờng sinh thái, Chính phủ các nƣớc khuyến khích sử dụng nguồn nguyên liệu thứ cấp và coi đó là nguồn nguyên liệu rất có giá trị.
Trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc đã và đang sản xuất giấy từ giấy loại (giấy tái chế), trong đó có Công ty Cổ phần giấy Hoàng Văn Thụ tỉnh Thái Nguyên. Công ty Cổ phần giấy Hoàng Văn Thụ trải qua quá trình hoạt động từ khi thành lập cho đến nay đã có nhiều lần nâng công suất và cải tiến công nghệ trong 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dây chuyền sản xuất cũng nhƣ xử lý chất thải. Bên cạnh những giá trị kinh tế - xã hội mà Công ty đem lại thì vẫn tồn tại một số vấn đề gây tác động xấu đến môi trƣờng do các nguồn thải phát sinh, đặc biệt là nƣớc thải. Xuất phát từ thực tiễn trên của ngành giấy nƣớc ta nói chung và của Công ty Cổ phần giấy Hoàng Văn Thụ nói riêng, tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nước thải Công ty Cổ phần giấy Hoàng Văn Thụ, tỉnh Thái Nguyên” với mục tiêu đánh giá hiện trạng hệ thống xử lý nƣớc thải của Công ty Cổ phần giấy Hoàng Văn Thụ, trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nƣớc thải của Công ty nhằm đảm bảo xử lý nƣớc thải đạt tiêu chuẩn môi trƣờng trƣớc khi thải ra sông Cầu và giảm thiểu tác động tới môi trƣờng nƣớc sông Cầu.
Nội dung nghiên cứu bao gồm: - Khảo sát hiện trạng sản xuất của Công ty Cổ phần giấy Hoàng Văn Thụ; - Điều tra, đánh giá hiện trạng phát sinh và xử lý nƣớc thải tại Công ty; - Đánh giá công nghệ xử lý nƣớc thải sản xuất đang vận hành tại Công ty; - Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nƣớc thải sản xuất cho Công ty; - Tính toán sơ bộ các công trình xử lý và thiết bị đáp ứng yêu cầu xả thải cho phƣơng án đƣợc đề xuất. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan ngành công nghiệp giấy 1.
Tình hình sản xuất của ngành giấy trong những năm gần đây (từ năm 2006 đến nay) Trong những năm gần đây nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn và điều này đã tác động rất lớn đến ngành giấy trong và ngoài nƣớc. Năm 2006 Việt Nam sản xuất đƣợc 503.000 tấn giấy và nhập khẩu 658.000 tấn giấy làm bao bì công nghiệp. Lƣợng giấy tiêu dùng trong nƣớc năm 2006 là 1.000 tấn, trong đó giấy làm bao bì công nghiệp chiếm tới 74%. Nhƣ vậy, sản xuất trong nƣớc mới đáp ứng đƣợc 43% nhu cầu, 90% nguyên liệu dùng để sản xuất giấy bao bì công nghiệp là giấy loại hoặc các tông loại thu gom trong nƣớc và nhập khẩu.
Năm 2006, giấy loại nhập khẩu đã lên tới 300.000 tấn và thu gom trong nƣớc đạt 270. Tỷ lệ lƣợng giấy loại nhập khẩu thƣờng lớn hơn lƣợng giấy loại thu gom trong nƣớc do giấy loại nhập khẩu đƣợc sản xuất từ bột nguyên thuỷ, còn giấy loại thu gom trong nƣớc là giấy đã đƣợc tái chế nhiều lần, khó có thể dùng để sản xuất sản phẩm có chất lƣợng cao. Những số liệu về sản xuất giấy của Việt Nam và các nƣớc trong khu vực Đông Á năm 2006 đƣợc chỉ ra trong Bảng 1. Tình hình sản xuất giấy của Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Á [13] Nƣớc Việt Thái Nhật Hàn Đài Philipine Indonesia Nam Lan Bản Quốc Loan Sản phẩm - Giấy 1.612 Sản xuất - Giấy 959 950 8.883 500 392 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Giấy loại 445 619 2.218 Nhập khẩu - Giấy 767 142 290 639 1.211 761 Xuất khẩu - Giấy 171 160 3.887 124 32 Tiêu dùng - Giấy 1.979 Tiêu dùng* 18,46 16,00 25,40 56,00 246,90 179,10 208,20 Hiệu suất - Giấy 83% 85% 84% 84% 96% 99% 68,2% - Bột 85% 12% 88% 99% 39% 86% 27% - Giấy loại 38% 52% 49% 49% 72% 75% 68,3% Lao động 1,606 - Trực tiếp 6 120 33 20 - Gom giấy 1,600 Ghi chú: - Đơn vị lao động: 1.
- Số liệu khác có đơn vị tính là 1. - Tiêu dùng* = tiêu dùng giấy theo đầu người/năm. Năm 2007 ngành giấy và bột giấy Việt Nam (gọi chung là ngành giấy Việt Nam) tiếp tục tăng trƣởng ở mức cao. Thị trƣờng giấy và bột giấy tiếp tục phát triển.
Đầu tƣ vào công nghiệp giấy từ các nhà đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài rất sôi động với nhiều dự án quy mô lớn và công nghệ hiện đại. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sang năm 2008 ngành giấy Việt Nam có nhiều biến động do ảnh hƣởng của suy thoái kinh tế thế giới bắt đầu từ năm 2007. Sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động đáng kể đến ngành công nghiệp giấy và bột giấy thế giới. Sau nhiều năm giá bột, giá giấy tăng vùn vụt ở mức cao chƣa từng có.
Từ tháng 6/2008, giá giấy ở khu vực đã bắt đầu giảm và giá bột giảm theo từ tháng 7/2008. Mức giảm tháng sau cao hơn tháng trƣớc. Giá nhiều loại bột trong tháng 11/2008 đã ở mức mà mọi ngƣời cho rằng đã chạm đáy. Hàng loạt nhà máy đóng cửa.
Nhiều công ty lớn, siêu thị lớn cũng ngừng sản xuất, giảm sản lƣợng, đóng cửa bớt nhà máy, dây chuyền. Phần lớn các nhà máy còn hoạt động, hàng tháng đều ngừng sản xuất 5-7 ngày. Tuy nhiên, lƣợng bột giấy và giấy tồn kho trên thế giới đã ở mức cao kỷ lục, trong đó Trung Quốc là nƣớc có lƣợng giấy tồn kho lớn nhất thế giới, theo một nhà phân tích, lƣợng giấy tồn này khoảng gần 20 triệu tấn [13]. Giá giấy trên toàn thế giới cũng giảm mạnh, thậm chí giá giấy nhập khẩu ở nhiều nƣớc thấp hơn giá giấy sản xuất nội địa, tệ hơn nữa là bán với giá do ngƣời mua định đoạt.
Một nhà phân tích cho biết “Do không thể tiêu thụ thêm đƣợc giấy ở thị trƣờng trong nƣớc dù có giảm giá đến mức nào, nên các nhà sản xuất phải đổ hàng thừa tồn đọng của mình ra thị trƣờng ngoài nƣớc và bán với mục đích thu hồi vốn”. Nhu cầu giấy trong 6 tháng đầu năm 2008 lớn do kim ngạch xuất khẩu và tiêu dùng cao cho dù chỉ số giá cả tăng hơn năm trƣớc. Dù đã chạy hết công suất, nhiều công ty không đủ khả năng thoả mãn khách hàng. Muốn mua đƣợc giấy nhiều ngƣời phải trả tiền trƣớc hoặc chịu thêm phụ phí.
Xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2008 đạt 84.000 tấn (trong đó chủ yếu là giấy vàng mã đạt 50.000 tấn, giấy in và viết là 10.000 tấn, còn lại là giấy tissue). Nhƣ vậy tiêu dùng biểu kiến trong 6 tháng đầu năm 2008 đạt 1. Sản xuất trong nƣớc đáp ứng đƣợc 54% tiêu dùng trong cả nƣớc [13]. Sản xuất giấy trong 6 tháng cuối năm 2008 chỉ bằng 75% sản xuất trong 6 tháng trƣớc đó.
Tuy nhiên tốc độ sụt giảm là cực nhanh. So với tháng 7/2008, sản 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xuất giấy của các tháng 8-11 lần lƣợt là 90%, 69% và 31%. Dự báo sản xuất tháng 12 chỉ bằng 26% so với tháng 7/2008. Nhƣ vậy sản xuất tháng 12/2008 chỉ bằng 25% khả năng sản xuất, làm cho 22.500 lao động không có việc làm.
Xuất khẩu giấy trong nửa cuối năm 2008 giảm từ 12.000 tấn/tháng (trong nửa đầu năm 2008) xuống còn 1.000 tấn/tháng [13]. Trong 19 dự án đầu tƣ vào sản xuất bột giấy và giấy chỉ còn dự án bột An Hoà và Giấy kraft Vina (Thái Lan) là vẫn tiếp tục hoàn thiện, nhƣng sẽ chậm so với kế hoạch 1 năm, các dự án khác đã tuyên bố ngừng không hạn định. Theo Tổng Thƣ ký Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam (VPPA), năm 2009 ngành giấy cũng gặp nhiều khó khăn, không chỉ doanh nghiệp giấy Việt Nam mà cả doanh nghiệp các nƣớc trong khu vực nhƣ Nhật Bản, Trung Quốc. Tuy nhiên, việc tạm ngừng sản xuất giấy đã mang lại lợi ích cho các nhà sản xuất nhằm cân bằng lại cung-cầu.
Diễn biến thị trƣờng trong năm 2009, làm cho nhiều doanh nghiệp lỡ nhịp trong việc ra các quyết định sản xuất, quyết định tăng giá. Thị trƣờng giấy in viết và giấy làm bao bì có nhiều biến động mạnh hơn so với các loại giấy khác. Thị trƣờng giấy làm bao bì sau khi “sáng sủa” trong vài tháng giữa năm thì cũng “âm u” trở lại trong những tháng cuối năm. Năm 2009, hầu hết các doanh nghiệp đều có lãi, tiêu dùng giấy năm 2009 cao hơn năm 2008 chút ít (gần 2%).
Sản lƣợng toàn ngành đạt đƣợc cao hơn năm 2008 đạt 2,14%, bao bì 6%. Đây là một kết quả khá khả quan, bởi năm 2009 có 7 tháng sản xuất cật lực còn 5 tháng, trong đó có 2 tháng khó khăn và 3 tháng cực kỳ khó khăn [2].