CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE CO BAN VE VON VA HIEU QUA SU DUNG VON TRONG DOANH NGHIEP 1. Vốn và vai trò của vốn đối với doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc trưng cơ bản của vốn 1. Khai niém von Như chúng ta đã biết, bất kì một doanh nghiệp (DN) nào muốn đi vào hoạt động đều cần phải có vốn.
Vốn là điều kiện tiên quyết để L DN được thành lập và tiến hành hoạt động kinh doanh. Trong mọi loại hình DN, vốn phản ánh nguồn lực tài chính đầu tư cho hoạt động kinh doanh của DN. Vậy vốn là gì? Vốn là khái niệm được xuất phát từ tên tiếng Anh là “Capiraf” có nghĩa là “Tư bản”. Tuy nhiên trên thực tế, khi nói về vốn thì chưa có một khái niệm nào được thống nhất.
Qua mỗi hoàn cảnh kinh tế - xã hội khác nhau mà có những quan điểm khác nhau về vốn Theo Marx, dưới góc độ các yếu tố sản xuất, vốn được khái quát hóa thành phạm trù tư bản.Marx cho rằng: Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thang dư, là đầu vào của quá trình sản xuất [1 1, trang 104]. Định nghĩa này có một tầm khái quát lớn vì nó bao ham day đủ cả bản chất và vai trò của von. Qua định nghĩa ta thấy được bản chất của vốn là giá trị dù nó được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tài sản có định, nhà cửa, phân xưởng, 'Vai trò của vốn chính là tạo ra giá trị thang dư vì nó tạo ra sự sinh sôi về giá trị thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên do hạn chế về hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, K.Marx chỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong lĩnh vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất vật chất mới tạo ra giá tri thang du cho nền kinh tế.Samuelson và William D.Nordhaus thì: Vốn bao gồm các loại hàng hóa lâu bền được sản xuất ra và được sử dụng như các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó.
Một số hàng hóa vốn có thể tồn tại vài năm, trong khi một số khác có thê tổn tại tới một thế kỷ hoặc lâu hơn. Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hóa vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu. ra, vừa là yếu tố đầu vào của sản xuất [13, trang 513]. Còn David Begg, Stanley Fich thì cho rằng: Vốn bao gồm vốn hiện vật và vốn tài chính.
Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hóa, sản phẩm đã được sản xuất ra để sản xuất các hàng hóa khác. Vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp. Theo định nghĩa này D.Begg đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Như vậy, các khái niệm về vốn tuy có khác nhau về góc độ nhìn nhận nhưng chung quy lại có thể coi vốn là một loại quỹ tiền tệ đặc biệt.
Mục tiêu của quỹ là để phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Vì vậy, vốn phải có trước khi diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanh và sau một chu kì kinh doanh phải được thu về để ứng tiếp cho chu kỳ tiếp theo. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thực sự là một mục tiêu mà doanh nghiệp luôn phải đặt lên hàng đầu trong danh sách các mục tiêu của mình. Nói thêm rằng, hiện nay khái niệm về vốn ở nước ta được định nghĩa như sau: Về mặt pháp luật, vốn của doanh nghiệp là toàn bộ tài sản của mọi người gồm chủ sở hữu, các thành viên,.
Nó tượng trưng các quyền, nhất là quyền sở hữu mà người chiếm hữu vốn đó có thể tùy ý sử dụng và do đó nhận được thu nhập trong lao động mà không bị phản đối. Về mặt kế toán tài chính, vốn của doanh nghiệp là toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp, bao gồm tiền mặt và hiện vật được sử dụng trong kinh doanh. Giá trị của những tài sản này bất biến nhờ khấu hao. Vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và vốn chuyên dụng.
-6- Như vậy dưới góc độ DN, vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình SXKD. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá trình sản xuất vật chất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục suốt thời gian tồn tại của DN. Vốn không thé mat đi mà phải ngày càng sinh sôi nảy nở. Mắt vốn đối với DN đồng nghĩa với nguy cơ phá sản.
Do vậy, DN muốn tồn tại và phát triển thì cần phải có phương pháp sử dụng vốn một cách hiệu quả nhất. Đặc trưng cơ bản của vốn Vốn là một loại hàng hóa đặc biệt, là yếu tố tiên quyết và không thé thiếu đối với mọi hoạt động kinh doanh. Vì vậy vốn có một số nét đặc trưng, riêng biệt sau: Đặc trưng cơ bản đầu tiên mà khi nhắc tới vốn không thể không nghĩ tới, đó là tính tuần hoàn và vận động sinh lời. Trong quá trình tái sản xuất, vốn của các đơn vị hoạt động kinh doanh luôn vận động không ngừng qua các giai đoạn khác nhau.
Qua mỗi giai đoạn vận động, vốn không ngừng biến đồi cả hình thái biểu hiện lẫn quy mô.Marx đã tìm thấy quy luật vận động của vốn mà quy luật này nếu ta trừu tượng biểu hiện cụ thể về mặt xã hội thì sẽ thấy một điều bố ích qua công thức: m0 | Tan Sản xuất | — H — Tr ĐTLĐ Công thức này tương ứng với ba giai đoạn: Mua - Sản xuất - Bán hàng. Ở giai đoạn một là mua: doanh nghiệp phải có vốn tiền tệ để mua sắm -T- những tư liệu sản xuất như thiết bị, máy móc, nhà xưởng,. và thuê nhân công. Hình thái của vốn ở giai đoạn này được chuyển từ vốn tiền tệ thành vốn dự trữ cho sản xuất.
Giai đoạn hai — giai đoạn sản xuất là giai đoạn kết hợp giữa lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm. Ở giai đoạn này vốn không chỉ biến hóa hình thái mà còn thay đổi về lượng giá trị, tạo ra lượng giá trị mới của sản phẩm hàng hóa. Lúc này vốn được biểu hiện dưới giá trị của các sản phẩm hàng hóa. Giai đoạn ba là giai đoạn bán hàng.
Lúc này vốn được chuyền từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ - hình thái ban đầu và tăng lên về giá trị so với giá trị ban đầu bỏ ra. Phần chênh lệch này được tạo ra từ quá trình sản xuất, được thực hiện ở khâu tiêu thụ và biểu hiện dưới hình thái lợi nhuận. Đây được coi là kết quả tài chính của doanh nghiệp. Đối với lĩnh vực phân phối, lưu thông (thương mại) vốn vận động qua hai giai đoạn: T~ H — T'.
Trong trường hợp này, H là hàng hóa dịch vụ được lưu thông và thực hiện giá trị. Với phương thức đầu tư vốn kinh doanh thì vốn vận động qua công thức: T— T” Như vậy, dù đối với lĩnh vực nào thì đồng vốn vẫn luôn chứa đựng trong nó tính tuần hoàn và tính sinh lợi. Cho dù trong suốt chu kỳ kinh doanh, vốn được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng khi kết thúc một chu ky n sẽ quay trở lại hình thái tiền tệ ban đầu với mức giá trị lớn hơn. Do vậy, mỗi doanh nghiệp hay mỗi nhà sản xuất đều phải biết tìm các cấu trúc giai đoạn một cách khôn ngoan các yếu tó tiền vốn, đầu tư nhằm tạo ra nhiều của cải nhất cho mỗi cá nhân, doanh nghiệp và xã hội.
Thứ hai, vốn đại diện cho một khối lượng hàng hóa nhất định. Hay nói cách khác, vốn phải được đảm bảo bằng một tài sản có thực. Tài sản đó được -§- thể hiện bằng tài sản hữu hình hoặc tài sản vô hình của doanh nghiệp như: nhà xưởng, máy móc, thiết bị, đất đai,. Với hình thức này các tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng không bị mắt đi mà thu hồi lại được giá trị qua hoạt động trích khấu hao.
Đây cũng chính là hoạt động bảo toàn vốn. Thứ ba, vốn phải được tích tụ và tập trung tới một mức nhất định. Sự tích tụ và tập trung một lượng vốn đến một hạn độ nào đó mới làm cho nó có đủ sức để đầu tư cho một dự án kinh doanh, cho dù là nhỏ nhất. Vì thế, một doanh nghiệp muốn khởi nghiệp thì nhất thiết phải có một lượng vốn đủ lớn.
Tuy nhiên, vốn không tự dưng mà có, để có vốn, doanh nghiệp phải tìm các biện pháp khai thác, thu hút các nguồn tiền tệ nhàn rỗi thành một “món lớn” để đầu tư kinh doanh. Thứ tư, vốn gắn liền với chủ sỡ hữu nhất định. Ở đâu có những đồng vốn vô chủ thì ở đó có tình trạng chỉ tiêu lãng phí, kém hiệu quả. Tuy nhiên tùy theo hình thức đầu tư vốn mà người sở hữu vốn và người sử dụng vốn có thê đồng nhất hoặc là tách rời.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn được xem là một loại hàng hóa đặc biệt bởi người sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng, vốn trong một thời gian nhất định. Chỉ phí của việc sử dụng vốn chính là lãi suất. Chính nhờ đặc điểm này mà vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh đề sinh lợi. Thứ năm, vốn có giá trị về mặt thời gian vì sức mua của đồng tiền ở mỗi thời điểm khác nhau là khác nhau.
Điều này là do ảnh hưởng khách quan từ nền kinh tế: lạm phát, giá cả, chính trị xã hội,. Vì vậy để sử dụng đồng, vốn một cách hiệu quả nhất, doanh nghiệp cần tạo ra giá trị lớn nhất của đồng, vốn theo thời gian. 'Với năm đặc điểm trên đã tạo ra tính riêng biệt cho tài sản vốn. Phân loại von Vén là một loại hàng hóa đặc biệt.
Nếu đứng từ nhiều góc độ. được nhìn nhận và phân loại theo những cách khác nhau. Vì vậy để sử dụng hiệu quả nguồn vốn, các doanh nghiệp cần nhìn nhận một cách khách quan, tổng thể về vốn từ nhiều góc độ. Để từ đó, doanh nghiệp có thé dé ra được một cơ cấu vn tối ưu phù hợp với mỗi doanh nghiệp nhằm mang lại hiệu quả cao nhất từ việc sử dụng vốn.
Có thể đứng trên các giác độ khác nhau để xem xét vốn kinh doanh. Các giác độ ph biến thường được xem xét là: 1.