CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CUẢNDOANH NGHỆP 1.1 TỔNG QUAN VỀ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm Theo điều 4 của Luật Doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 29/08/2005 và có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2006 đã định nghĩa như sau: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Qua định nghĩa trên ta có thể thấy rằng đặc trưng cơ bản nhất để phân biệt giữa DN với các loại hình tố chức khác ở chỗ hoạt động chủ yếu là kinh doanh. Hoạt động kinh doanh là đặc điểm không thể thiếu của một doanh nghiệp. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.(theo điều 4 của Luật Doanh nghiệp - Luật số 60/2005/QH11) Như ta đã biết tư liệu lao động, đối tượng lao động , sức lao động là ba yếu tố không thể thiếu của một quá trình sản xuất kinh doanh.
Để có được các yếu tố đó đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Vì vậy có thể nói, vốn là điều kiện tiên quyết và có ý nghĩa quyết định tới mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Trước đây , trong nền kinh tế kế hoạch, vốn do Ngân sách Nhà nước cấp, còn các doanh nghiệp Nhà nước có nghĩa vụ thực hiện các chỉ tiêu do Nhà nước đặt ra. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường vốn không chỉ được SV: Lều Thị Thảo 8 Lớp: TCDN-13B01 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Hương Giang huy động từ một nguồn mà các doanh nghiệp phải chủ động huy động từ nhiều nguồn khác nhau nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất kinh doanh. Nhu cầu về vốn xét trên góc độ doanh nghiệp là để duy trì, mở rộng sản xuất , đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm và thu nhập cho người lao động. Từ đó góp phần nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, tăng khả năng cạnh tranh so với các đối thủ khác, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh…Rõ ràng vốn chiếm một vai trò rất quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh, do đó việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp là cần thiết. Vậy vốn kinh doanh là gì? Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục nên vốn kinh doanh của doanh nghiệp cũng vận động không ngừng tạo ra sự tuần hoàn và chu chuyển của vốn. Sự vận động của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp được mô phỏng qua sơ đồ sau: TLSX ( TLLĐ + ĐTLĐ) T-H. SX- H'- T' trong đó T' >T SLĐ Vòng tuần hoàn của vốn bắt đầu từ hình thái vốn tiền tệ (T) chuyển sang hình thái vốn vật tư hàng hóa. Vốn dưới hình thái vật tư hàng hóa được đưa vào sản xuất để tạo ra các sản phẩm.
Doanh nghiệp sẽ tìm cách tiêu thụ sản phẩm này và thu tiền về. Đồng vốn của doanh nghiệp lúc này lại từ hình thái vật tư hàng hóa quay trở lại hình thái ban đầu của nó là hình thái tiền tệ nhưng với một lượng tiền lớn hơn lúc đầu bỏ ra. Đến đây kết thúc một chu kỳ sản xuất, vốn tiền tệ lại được lặp lại đúng chu kỳ mà nó trải qua. Do sự luân SV: Lều Thị Thảo 9 Lớp: TCDN-13B01 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Hương Giang chuyển không ngừng của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên cùng một lúc vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường tồn tại dưới các hình thái khác nhau trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông.2 Đặc trưng -Vốn kinh doanh phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp. -Vốn phải vận động để sinh lời, đạt được muc tiêu cuối cùng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. -Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng. -Vốn kinh doanh có giá trị về mặt thời gian, điều này rất có ý nghĩa khi bỏ vốn vào đầu tư và xác định hiệu quả đồng vốn bỏ ra.
-Vốn kinh doanh phải gắn liền với một chủ sở hữu nhất định. -Vốn kinh doanh phải được quản lý chặt chẽ. -Vốn được quan niệm là một loại hàng hoá, một loại hàng hoá đặc biệt, nó có thể được mua hay bán quyền sử dụng trên thị trường.3 Phân loại Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn, có thể chia vốn kinh doanh thành hai loại: vốn cố định và vốn lưu động Vốn cố định (VCĐ) Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của VCĐ được gắn liền với hình thái vật chất của nó là TSCĐ và được tuân theo những quy luật nhất định. Vì vậy để hiểu rõ và quản lý, sử dụng VCĐ có hiệu quả ta cần nghiên cứu các cách phân loại và kết cấu TSCĐ.
TSCĐ trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu mà đặc điểm của chúng là có giá trị lớn ( từ 10 triệu đồng trở lên - theo quy định của Chính phủ Việt Nam), có thời gian sử dụng dài ( thường từ 1 năm trở SV: Lều Thị Thảo 10 Lớp: TCDN-13B01 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Hương Giang lên ) cho các hoạt động của doanh nghiệp và phải thỏa mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn là TSCĐ. Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ TSCĐ hiện có của doanh nghiệp theo những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho những yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Thông thường có một số phương pháp phân loại chủ yếu sau: * Phương pháp thứ nhất: Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế.
Theo phương pháp này, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được chia làm hai loại: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình. - TSCĐ hữu hình: Là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Thuộc loại này căn cứ theo công dụng kinh tế có thể chia thành các nhóm sau. + Nhà cửa, vật kiến trúc: Là toàn bộ các công trình kiến trúc như nhà làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, đường xá, cầu cống, cầu tầu.
+ Máy móc, thiết bị: Là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động của doanh nghiệp như máy móc thiết bị chuyên dùng, máy móc thiết bị công tác, dây truyền công nghệ. + Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: Gồm các loại phương tiện vận tải đường bộ, đường sông, đường biển.và các thiết bị truyền dẫn về thông tin, điện nước, băng truyền tải vật tư, hàng hóa. + Thiết bị, dụng cụ quản lý: Là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính, thiết bị điện tử, thiết bị dụng cụ đo lường kiểm tra chất lượng, máy hút bụi, hút ẩm. + Vườn cây lâu năm ( như cà phê, cao su, chè, cây ăn quả.), súc vật làm việc ( như trâu, bò,.) hoặc súc vật cho sản phẩm ( như bò sữa, trâu sữa.) SV: Lều Thị Thảo 11 Lớp: TCDN-13B01 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Hương Giang - TSCĐ vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị, do doanh nghiệp quản lý và sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn TSCĐ vô hình. TSCĐ vô hình chỉ được thừa nhận khi xác định được giá trị của nó, thể hiện một lượng giá trị lớn đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Thông thường, TSCĐ vô hình gồm các loại sau: Quyền sử dụng đất có thời hạn, nhãn hiệu hàng hóa, phần mềm vi tính, bản quyền, bằng sáng chế,… Phương pháp phân loại này giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu đầu tư vào TSCĐ theo hình thái biểu hiện, là căn cứ để quyết định đầu tư dài hạn hoặc điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho phù hợp với mỗi loại TSCĐ. * Phương pháp thứ hai: Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng.
Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ, có thể chia toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp thành các loại sau: - TSCĐ đang dùng - TSCĐ chưa cần dùng - TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý Theo cách phân loại này người quản lý nắm được tổng quát tình hình sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp sử dụng tối đa các TSCĐ hiện có trong doanh nghiệp, giải phóng nhanh các TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý để thu hồi vốn. * Phương pháp thứ ba: Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng. Dựa theo tiêu thức này, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được chia làm hai loại: - TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: Là những TSCĐ đang dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất kinh doanh phụ của doanh nghiệp.
SV: Lều Thị Thảo 12 Lớp: TCDN-13B01 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Hương Giang - TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi sự nghiệp, an ninh quốc phòng: Là những TSCĐ không mang tính chất sản xuất do doanh nghiệp quản lý sử dụng cho các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp và các hoạt động đảm bảo an ninh, quốc phòng. Cách phân loại này giúp cho người quản lý doanh nghiệp thấy được kết cấu TSCĐ theo mục đích sử dụng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và tính khấu hao TSCĐ có tính chất sản xuất, có biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loại TSCĐ. Trong nền kinh tế thị trường để có được các TSCĐ cần thiết cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải đầu tư ứng trước một lượng tiền tệ nhất định.
Số vốn doanh nghiệp ứng ra để hình thành nên TSCĐ được gọi là VCĐ của doanh nghiệp.