Chương 1: Lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty CPTMDV&XNK Thanh Hóa Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty CPTMDV&XNK Thanh Hóa 5 PHẦN B: NỘI DUNG CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về vốn kinh doanh Để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có vốn. Vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới các bước tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền chuyển sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền.Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy được gọi là sự tuần hoàn vốn. Qúa trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục,không ngừng. Do đó sự tuần hoàn vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kì tạo thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh. Sự chu chuyển của vốn kinh doanh chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh.
Từ những phân tích trên có thể rút ra: ‘’Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời’’ Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Đặc điểm của vốn kinh doanh Trong nền kinh tế hàng hóa, vốn kinh doanh được biểu hiện dưới hai hình thức: giá trị và hiện vật, và có những đặc điểm sau: Vốn biểu hiện giá trị của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, là lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Vốn được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng. Các nhà quản lý, nhà đầu tư không chỉ khai thác mội tiềm năng của 6 vốn mà còn phải cân nhắc, tính toán, tìm cách chọn nguồn huy động đủ để đảm bảo yêu cầu sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng của mỗi đồng vốn.
Mỗi đồng vốn phải gắn liền với một chủ sở hữu nhất định. Nếu tồn tại những đồng vốn vô chủ tức là có sự chi tiêu lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả. Tiền chỉ là dạng tiềm năng, là hình thức ban đầu của vốn. Để trở thành vốn, thì tiền phải được đưa đi dầu tư, sản xuất kinh doanh và sinh lời.
Và đồng thời, vốn không ngừng được bảo toàn, bổ sung và phát triển để thực hiện việc tái sản xuất. Luôn luôn phải trả một khoản chi phí cho việc sử dụng vốn. Vai trò của vốn kinh doanh Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp, ngành nghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế. Để tiến hành hoạt động kinh doanh được, doanh nghiệp cần phải nắm giữ một lượng vốn nhất định nào đó.
Số vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy vốn kinh doanh có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh là điều kiện tiền đề để doanh nghiệp có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Vốn kinh doanh là điều kiện duy trì sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập cho người lao động.
Vốn kinh doanh là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của tài sản, kiểm tra, giám sát quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu tài chính. Qua đó, nhà quản trị doanh nghiệp biết được thực trạng kinh doanh, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát hiện các tồn tại, tìm ra nguyên nhân và đưa ra các biện pháp khắc phục. Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên là doanh nghiệp đó phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó tối thiểu phải bằng lượng vốn pháp định (lượng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho từng loại doanh nghiệp) khi đó địa vị pháp lý mới được công nhận.Ngược lại, việc thành lập doanh nghiệp không thể thực hiện được. Trường hợp trong quá trình hoạt 7 động kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không đạt điều kiện mà pháp luật quy định, doanh nghiệp sẽ chấm dứt hoạt động như phá sản, sát nhập vào doanh nghiệp khác… Như vậy, vốn được xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp trước pháp luật.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh vốn là mạch máu của doanh nghiệp quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.Vốn không những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ phục vụ cho quá trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diễn ra một cách liên tục, thường xuyên. Vốn là yếu tố quyết định đến mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh doanh vốn của doanh nghiệp phải sinh lời, tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi đảm bảo cho doanh nghiệp được bảo toàn và phát triển. Đó là cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư sản xuất, thâm nhập vào thị trường tiềm năng từ đó mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.
Phân loại vốn kinh doanh Theo đặc điểm luân chuyển, vốn kinh doanh gồm vốn cố định và vốn lưu động: Vốn cố định (VCĐ) cuả doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng. Vốn cố định trong doanh nghiệp bao gồm: Giá trị TSCĐ, số tiền đầu tư tài chính dài hạn, chi phí XDCB dở dang, giá trị TSCĐ thế chấp dài hạn. Vốn lưu động: với bất cứ một doanh nghiệp nào thì vốn bao giờ cũng được coi là yếu tố hàng đầu của mọi quá trình sản xuất, nó quyết định cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để tiến hành sản xuất kinh doanh thường xuyên, liên tục ngoài TSCĐ doanh nghiệp cần có một lượng TSLĐ nhất định.
Do đó, để hình thành nên 8 TSLĐ, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó. Số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Như vậy, vốn lưu động là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục. Nội dung quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1.
Quản trị vốn cố định a. Khái niệm và đặc điểm luân chuyển của vốn cố định Khái niệm Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng. Vốn cố định trong doanh nghiệp bao gồm: Giá trị TSCĐ, số tiền đầu tư tài chính dài hạn, chi phí XDCB dở dang, giá trị TSCĐ thế chấp dài hạn. Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản cố định không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượng giá trị đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp như chí phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về mua bằng phát minh sáng chế, bản quyền tác giả Đặc điểm luân chuyển của vốn cố định Vốn cố định luân chuyển và vận động theo đặc điểm của TSCĐ được sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kỳ sản xuất.
VCĐ được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận vốn cố định được luân chuyển vào cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức khấu hao) tương ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ. Sau nhiều chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hoàn thành 1 vòng luân chuyển b, Khấu hao tài sản cố định Khấu hao TSCĐ là việc tính toán và bổ một cách có hệ thống giá trị phải thu hồi của tài sản cố định trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó. 9 Mục đích của khấu hao TSCĐ là nhằm tích luỹ vốn để tái sản xuất giản đơn hoặc tái sản xuất mở rộng TSCĐ.
Bộ phận giá trị hao mòn được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm được coi là một yếu tố chi phí sản xuất sản phẩm được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao TSCĐ. Việc thực hiện khấu hao TSCĐ một cách hợp lý giúp cho doanh nghiệp có thể thu hồi được đầy đủ vốn cố định khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng. Mặt khác, doanh nghiệp có thể tập trung được vốn từ tiền khấu hao để có thể thực hiện kịp thời việc đổi mới máy móc, thiết bị công nghệ. Hao mòn tài sản cố định Trong quá trình sử dụng, do chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khác nhau nên TSCĐ bị hao mòn.
Hao mòn TSCĐ là sự giảm dần về giá trị sử dụng và giá trị hoặc giảm giá trị của TSCĐ. Sự hao mòn TSCĐ được chia thành hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình Hao mòn hữu hình: Là sự giảm dần về giá trị sử dụng và theo đó là giảm dần về giá trị của TSCĐ. Sự hao mòn của TSCĐ có tỉ lệ thuận với thời gian sử dụng và cường độ sử dụng chúng.Ngoài ra các yếu tố tự nhiên như độ ẩm, nắng, mưa. Sự hao mòn của TSCĐ còn chịu ảnh hưởng của sức bền vật liệu cấu thành TSCĐ.
Hao mòn vô hình: Là sự giảm thuần túy về mặt giá trị của TSCĐ. Nguyên nhân dẫn đến hao mòn vô hình là do sự tiến bộ của khoa học và công nghệ.