CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, DỤNG QUỸ ĐẤT CÔNG ÍCH 1. Khái niệm và vai trò của quản lý, sử dụng quỹ đất công ích 1. Khái niệm quản lý, sử dụng quỹ đất công ích * Khái niệm quỹ đất công ích Quỹ đất công ích hiện diện trong đời sống nông dân Việt Nam từ rất lâu, tuy có tên gọi khác nhau nhưng mục đích và ý nghĩa gần như nhau: Quỹ đất công làng xã (thời kỳ phong kiến), quỹ đất 5% hoặc quỹ đất phần trăm (thời kỳ Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến trước Luật Đất đai 1993 có hiệu lực), quỹ đất công ích (từ sau Luật Đất đai 1993 có hiệu lực đến nay); quỹ đất công ích góp phần cải thiện đời sống cho đại bộ phận nông dân nông thôn, là nguồn lực để cơ sở xây dựng cơ sở hạ tầng, ổn định chính trị và phát triển kinh tế xã hội địa phương, đặc biệt trong việc thực hiện “Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới” trong thời kỳ hiện nay. Trong các quy định của pháp luật đất đai trước kia, cũng như Luật Đất đai hiện hành không có một khái niệm cụ thể nào về quỹ đất công ích, nhưng có thể rút ra từ các quy định đó một cách khái quát: Quỹ đất công ích là diện tích đất mà mỗi xã, phường, thị trấn căn cứ vào quỹ đất, đặc điểm và nhu cầu của địa phương, mà được giữ lại không quá năm phần trăm (5%) trong tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản của địa phương để thực hiện các mục đích công ích tại xã, phường, thị trấn thuộc địa phương đó [18, tr.
Từ khái niệm trên có thể hiểu rằng đất công ích là loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp, trích ra nhằm sử dụng vào mục đích công ích và chỉ giữ lại trong giới hạn pháp luật cho phép 6 là từ 5% hoặc ít hơn so với tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp có trong phạm vi địa bàn địa phương. * Khái niệm quản lý quỹ đất công ích Quản lý Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt, theo đó chủ thể quản lý được sử dụng quyền lực nhà nước gồm lập pháp, hành pháp và tư pháp để quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; có tính tổ chức cao, ổn định, liên tục trên cơ sở các chiến lược, chương trình, kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra. Quản lý Nhà nước về đất đai Quản lý đất đai bao gồm những chức năng, nhiệm vụ liên quan đến việc xác lập và thực thi các quy tắc cho việc quản lý, sử dụng và phát triển đất đai cùng với những lợi nhuận thu được từ đất (thông qua việc bán, cho thuê hoặc thu thuế) và giải quyết những tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu và quyền sử dụng đất.
Quản lý đất đai là quá trình điều tra mô tả những tài liệu chi tiết về thửa đất, xác định hoặc điều chỉnh các quyền và các thuộc tính khác của đất, lưu giữ, cập nhật và cung cấp những thông tin liên quan về sở hữu, giá trị, sử dụng đất và các nguồn thông tin khác liên quan đến thị trường bất động sản. Quản lý đất đai liên quan đến cả hai đối tượng đất công và đất tư bao gồm các hoạt động đo 7 đạc, đăng ký đất đai, định giá đất, giám sát và quản lý sử dụng đất đai, cơ sở hạ tầng cho công tác quản lý. Nhà nước phải đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất đai và các nguyên tắc của hệ thống quản lý đất đai bao gồm pháp luật đất đai và pháp luật liên quan đến đất đai. Đối với công tác quản lý đất đai, Nhà nước xác định một số nội dung chủ yếu: Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước; tập trung và phân cấp quản lý; vị trí của cơ quan đăng ký đất đai; vai trò của lĩnh vực công và tư nhân; quản lý các tài liệu địa chính; quản lý các tổ chức địa chính, quản lý nguồn nhân lực; nghiên cứu; giáo dục và đào tạo; trợ giúp về chuyên gia tư vấn và kỹ thuật; hợp tác quốc tế.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đặt ra những yêu cầu to lớn đối với công tác quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó quản lý nhà nước về đất đai là một trong những lĩnh vực quan trọng hàng đầu. Để phù hợp với quá trình đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề đất đai và đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để quản lý đất đai, điều chỉnh các mối quan hệ đất đai theo kịp với tình hình thực tế. Đất đai, khi tham gia vào nền kinh tế thị trường thì có sự thay đổi căn bản về bản chất kinh tế - xã hội: Từ chỗ là tư liệu sản xuất, điều kiện sống chuyển sang là tư liệu sản xuất chứa đựng yếu tố sản xuất hàng hoá, phương diện kinh tế của đất trở thành yếu tố chủ đạo quy định sự vận động của đất đai theo hướng ngày càng nâng cao hiệu quả. Chính vì vậy, việc quản lý nhà nước về đất đai là hết sức cần thiết, nhằm phát huy những ưu thế của cơ chế thị trường và hạn chế những khuyết tật của thị trường khi sử dụng đất đai, ngoài ra cũng làm tăng tính pháp lý của đất đai.
Theo quy định của Luật Đất đai hiện hành có 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Bên cạnh đó, Nhà nước đã ban hành các Nghị định, Thông tư, Chỉ thị … đã tạo ra một hành lang pháp lý cho công tác quản lý đất đai. Hệ 8 thống văn bản pháp Luật đất đai được đánh giá là tương đối hoàn chỉnh với những nội dung quy định cụ thể: về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất; về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; về thu tiền sử dụng đất; về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất; hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính; hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quản lý nhà nước về quỹ đất công ích Luật Đất đai quy định các loại đất dù là đất nông nghiệp, phi nông nghiệp hay bất cứ loại đất nào thì để tạo lập nên loại đất đó cũng dựa trên hai căn cứ chủ yếu: thứ nhất, dựa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt; thứ hai, là nhìn vào nhu cầu sử dụng đất cụ thể, được thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
Đất công ích vì là diện tích được trích từ đất sản xuất nông nghiệp nên không nằm ngoài quy định đó, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng được xem là căn cứ quan trọng nhất trong việc tạo lập, quản lý quỹ đất công ích. Khi cần diện tích đất thực hiện mục đích công ích cho địa phương, trước đây theo Luật Đất đai năm 2003 thì Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng trong đó có diện tích đất công ích, cấp xã trình cơ quan cấp trên phê duyệt, nếu được chấp thuận và có thêm quyết định tỷ lệ đất công ích cho phép để lại của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thì quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của cấp xã đã được tạo lập và đương nhiên nguồn gốc của quỹ đất này là xuất phát từ tổng diện tích đất nông nghiệp của chính địa phương có nhu cầu để lại đất công ích. Sau này khi thực hiện Luật Đất đai năm 2013 thì Uỷ ban nhân dân cấp xã không còn thẩm quyền lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà Uỷ ban nhân dân cấp huyện 9 tiến hành tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện, trong đó có nội dung đất công ích của các địa phương cấp xã. Ngoài nguồn gốc hình thành nên diện tích đất công ích thì ngoài diện tích được Nhà nước giao, theo nhu cầu trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì quỹ đất công ích còn được góp lại từ đất không được Nhà nước trực tiếp chuyển giao mà nó vận hành theo con đường ngược lại, tức là các diện tích đất do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự nguyện trả lại hoặc tặng cho quyền sử dụng đất mà họ không sử dụng hay sử dụng không hết, bên cạnh đó còn có đất khai hoang, đất thu hồi để phục vụ công ích, đất vượt hạn mức,… Tuy nhiên, tổng diện tích được trích để lại không quá 5% trong tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản của địa phương cấp xã có để lại đất công ích.
Nhà nước quản lý đối với quỹ đất công ích thông qua việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quỹ đất công ích nêu trên; ngoài ra, còn quản lý theo phương pháp quản lý chung của Luật Đất đai, theo chính sách riêng của từng cấp xã và bằng việc thu tài chính; đồng thời, quy định rõ về thời gian sử dụng đất công ích, diện tích đất công ích được sử dụng, giá đất khi gia đình, cá nhân thuê đất công ích. * Khái niệm sử dụng quỹ đất công ích Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất được sử dụng. Việc sử dụng đất có thể được định nghĩa là: “những hoạt động của con người có liên quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất hoặc có tác động lên chúng”. Số liệu về quá trình và hình thái các hoạt động đầu tư (lao động, vốn, nước, phân hoá học.), kết quả sản lượng (loại nông sản, thời gian, chu kỳ mùa vụ.