Chương 1. Tổng quan nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý luận về nhập khẩu và hiệu quả nhập khẩu trong thương mại quốc tế Chương 3. Thực trạng hiệu quả nhập khẩu trang thiết bị phòng sạch từ thị trường ASEAN của công ty TNHH SEMECO Việt Nam Chương 4.
Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nhập khẩu trang thiết bị phòng sạch từ thị trường ASEAN của công ty TNHH SEMECO Việt Nam 8 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU VÀ HIỆU QUẢ NHẬP KHẨU TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 2. Cơ sở lý luận về nhập khẩu trong thương mại quốc tế 2. Khái niệm về nhập khẩu Theo Corporate Finance Institute (CIF), nhập khẩu là việc một quốc gia mua hàng hóa hoặc dịch vụ được sản xuất, cung cấp bởi một quốc gia khác.
Theo Luật thương mại 2005 sửa đổi, bổ sung 2017 Điều 28 khoản 2: Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Hiểu một cách đơn giản, nhập khẩu đề cập đến các hoạt động dùng ngoại tệ để trao đổi mua hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước hoặc tái xuất khẩu nhằm thu lợi nhuận. Nhập khẩu cho phép các quốc gia mua hàng hóa và tài nguyên mà họ không thể tự sản xuất hoặc sản xuất chúng rẻ hơn và hiệu quả hơn so với sản xuất trong nước. Những hàng hóa, dịch vụ có thể được nhập khẩu bởi các cá nhân, công ty hoặc chính phủ, và được sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm khác hoặc được bán lại cho người tiêu dùng cuối cùng.
Đặc điểm của hoạt động nhập khẩu Nhập khẩu có bốn đặc điểm thể hiện sự khác biệt đối với việc kinh doanh trong nội địa. Thứ nhất, hoạt động nhập khẩu có thị trường nhập khẩu phong phú. Theo David Ricardo, mỗi quốc gia có lợi thế so sánh riêng trong sản xuất những mặt hàng nhất định. Hơn nữa, do hoạt động nhập khẩu không bị giới hạn bởi biên giới quốc gia, các doanh nghiệp nhập khẩu có nhiều cơ hội để lựa chọn thị trường cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho mình dựa trên mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra.
Lợi ích thu được hay chi phí phải bỏ ra khi nhập khẩu từ các thị trường khác nhau còn dựa trên tương quan về vị trí địa lý của hai nước, chất lượng nhân công, khả năng sản xuất,. 9 Thứ hai, nhập khẩu chịu sự chi phối của môi trường pháp luật. Kinh doanh nhập khẩu chịu sự chi phối của nhiều hệ thống luật pháp, hệ thống luật quốc gia và hệ thống luật quốc tế. Giữa các hệ thống luật này thường có sự mâu thuẫn với nhau.
Do đó khi tham gia kinh doanh nhập khẩu, mỗi doanh nghiệp cần nắm rõ nguồn luật điều chỉnh hợp đồng nhập khẩu để tránh những tranh chấp phát sinh. Thứ ba, nhập khẩu đa dạng phương thức thanh toán, mỗi quốc gia có một đồng tiền riêng và giá trị của từng đồng tiền là khác nhau. Do đó, để quá trình nhập khẩu được thuận lợi nhất, tiền tệ trong thanh toán thường là ngoại tệ có sức chuyển đổi cao như đô la Mỹ (USD), EURO, bảng Anh.Việc thanh toán hàng hóa nhập khẩu bằng ngoại tệ sẽ chịu tác động lớn của tỷ giá hối đoái. Có nhiều phương thức khác nhau được sử dụng trong hoạt động thanh toán nhập khẩu: phương thức nhờ thu, phương thức chuyển tiền, phương thức tín dụng chứng từ,.
Thứ tư, về phương thức vận chuyển, hoạt động nhập khẩu liên quan trực tiếp đến yếu tố nước ngoài, hàng hóa được vận chuyển qua biên giới các quốc gia, có khối lượng lớn và được vận chuyển qua đường biển, đường hàng không, đường sắt và vận chuyển vào nội bộ bằng các xe có trọng tải lớn .Do đó hoạt động nhập khẩu đòi hỏi chi phí vận chuyển lớn làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò của hoạt động nhập khẩu Ngày nay, dưới tác động của xu thế tự do hoá thương mại, hầu hết các quốc gia đều nỗ lực tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế, đều hướng các chính sách kinh tế, thương mại của quốc gia mình theo khuôn khổ các khối mậu dịch mà họ sẽ tham gia ở tầm khu vực như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN ( AFTA), Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ( NAFTA),. ở cấp độ liên lúc địa như ASEM, và cao hơn nữa là cấp độ toàn cầu như tổ chức thương mại thế giới WTO. Trong bối cảnh ấy hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng là hoạt động kinh doanh ở phạm vi quốc tế.
Không phải là những hành vi buôn bán lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong nước và bên ngoài nước nhằm mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước, ổn định và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân. Như 10 vậy, hoạt động nhập khẩu tác động trực tiếp lẫn gián tiếp tới sản xuất và đời sống trong nước, nó có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao cũng như gây thiệt hại cho nền kinh tế trong nước do tính chất phức tạp của nó khi có yếu tố quốc tế tham gia vào. Nhập khẩu với tư cách là một trong hai hoạt động chủ yếu của thương mại quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia cũng như sự phát triển của thương mại quốc tế. Do đó, đối với nền kinh tế quốc gia: Trước hết, nhập khẩu có vai trò to lớn trong việc bù đắp những thiếu hụt về cầu do sản xuất trong nước chưa đáp ứng được.
Không những thế, nhập khẩu còn tạo ra những nhu cầu mới cho xã hội, tạo nên sự phong phú về chủng loại, mẫu mã, chất lượng cho thị trường. Điều đó có nghĩa là nhập khẩu góp phần tạo nên sự cân đối tích cực giữa cung và cầu trên thị trường trong nước. Nhập khẩu bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo phát triển nền kinh tế cân đối ổn định. Thứ hai, nhập khẩu giúp quốc gia khai thác được lợi thế so sánh của mình, khai thác được tính lợi thế kinh tế nhờ quy mô khi tham gia vào thương mại quốc tế.
Không chỉ tạo thêm hàng tiêu dùng trong nước, nhập khẩu còn tạo nên nguồn nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất trong nước, tạo ra chuyển giao công nghệ. Nhờ đó nó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền sản xuất xã hội, tiết kiệm được chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều về trình độ phát triển kinh tế xã hội, tiết kiệm đựơc chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều về trình độ phát triển kinh tế xã hội, góp phần xoá bỏ tình trạng độc quyền trong nước. Thứ ba, nhập khẩu tạo ra năng lực mới trong sản xuất thông qua việc làm tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Các doanh nghiệp nội địa phải chịu một sức cạnh tranh lớn, để tồn tại họ buộc phải năng động hơn, vươn lên chiến thắng trong cạnh tranh.
Qua đó, hiệu quả sản xuất trong nước được nâng cao, hàng hoá nội địa trở nên có tính cạnh tranh hơn, người lao động có nhiều cơ hội tìm việc làm hơn góp phần nâng cao đời sống kinh tế - xã hội. Thứ tư, nhập khẩu tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu dùng trong nước với nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho phân công lao động quốc tế phát triển. Điều đó có ý nghĩa to lớn trong bối cảnh quốc tế hoá diễn ra mạnh mẽ ngày nay. Nó 11 mở rộng quan hệ hợp tác giữa các nền kinh tế,.
Đất nước từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế đã có thêm sức mạnh mới, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp với nhiều nhược điểm từng bước được thay thế bằng tính năng động, tự chủ của cơ chế thị trường. Ngoại thương của Việt Nam không còn chỉ bó hẹp trong phạm vi nội khối xã hội - chủ nghĩa qua các khoản viện trợ hoặc qua các nghị định thư mà được mở rộng ra trên phạm vi toàn cầu. Chính sách phát triển kinh tế, thương mại Việt Nam từng bước được điều chỉnh cho phù hợp với xu thế chung của thời đại, hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới. Vai trò của nhập khẩu ngày trở nên rõ rệt: Không chỉ là nhân tố giúp Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới mà còn là nhân tố làm thay đổi diện mạo của các doanh nghiệp Việt Nam.
Để tiếp tục phát huy vai trò của hoạt động nhập khẩu, Nhà nước ta xác định: Trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hoạt động kinh doanh nhập khẩu, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cần chú ý tạo uy tín và quan hệ lâu dài với bạn hàng, coi trọng tính hiệu quả kinh tế trong nhập khẩu, biết kết hợp hài hoà giữa các mặt lợi ích. Đối với doanh nghiệp: Thứ nhất, vai trò của nhập khẩu là thúc đẩy sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước so với hàng hóa nhập khẩu. Thông qua hoạt động nhập khẩu, các sản phẩm ngoại nhập có chất lượng tốt, mẫu mã đa dạng, có tính cạnh tranh cao tham gia vào thị trường nội địa buộc doanh nghiệp sản xuất trong nước phải không ngừng đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng, dịch vụ sản phẩm và hạ giá thành để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nội địa. Điều này đồng thời cũng làm cho hiệu quả sản xuất được nâng cao, người lao động tìm được việc làm, đời sống được cải thiện.
Thứ hai, nhập khẩu giúp làm nâng cao năng lực chuyên môn của các thành viên trong doanh nghiệp nhập khẩu bởi hoạt động động này diễn ra trên phạm vi quốc tế, có sự giao lưu của nhiều nền kinh tế khác nhau về chính trị, văn hoá, ngôn ngữ, phong tục tập quán… Do đó, các doanh nghiệp nhập khẩu buộc phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị, các cán bộ, các cá nhân trong doanh nghiệp luôn luôn phải học hỏi kinh nghiệm, nâng cao nghiệp vụ để hoàn thành tốt công việc của mình. 12 Thứ ba, hoạt động nhập khẩu hàng hoá có vai trò làm tăng thế lực và uy tín của doanh nghiệp cả ở thị trường trong nước và trị thường quốc tế.