LỜI MỞ ĐẦU 1: Sự ra đời và đi vào hoạt động của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam năm 2000 dường như là một bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước. Trong suốt 13 năm hoạt động, TTCK Việt nam đã dần dần có những bước chuyển quan trọng. Từ những vấn đề còn sơ khai và đơn giản, giờ đây đã có hẳn cả bộ máy điều hành thị trường nền kinh tế Việt Nam. Là một trong những công cụ giúp điều chỉnh các chính sách cảu nhà nước đề ra.
Môi giới chứng khoán (MGCK) là một trong những hoạt động nghiệp vụ đặc trưng và cơ bản của TTCK, đòi hỏi một chất lượng đặc biệt về kĩ năng, nghiệp vụ, đạo đức đồng thời đòi hỏi một môi trường hỗ trợ tương đối phức tạp về tổ chức, pháp luật, cơ sở vật chất, thiết bị, văn hóa, xã hội…Đây là cầu nối giúp cho NĐT và các CTCK gần nhau hơn.TTCK phát triển ở trình độ cao là tiền đề để nghề MGCK có thể đảm nhận tốt chức năng của mình. Ngược lại, MGCK đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của TTCK. Đối với thị trường, MGCK giúp những người bình thường, không am hiểu nhiều về kinh tế, tài chính cũng có thể tiếp cận thị trường, đáp ứng nhu cầu đầu tư, giao dịch của họ.Đối với CTCK, MGCK không chỉ tạo ra nguồn thu đều đặn mà còn mở rộng, thắt chặt và củng cố quan hệ với khách hàng, qua đó có thể làm nền tảng cho các hoạt động khác của công ty. Công ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là một trong những CTCK ra đời đầu tiên tại Việt nam và cũng là công ty đi đầu trong việc cung cấp dịch vụ MGCK cho khách hàng trên thị trường lúc bấy giờ.
Với nhiều năm hoạt động, AGRISECO đã đạt những thành công nhất định trong khả năng kiểm soát thị trường, tạo dựng vị thế và uy tín của công ty. Tuy nhiên, cũng như nhiều CTCK khác, SV: Đàm Thị Loan 1 Lớp: CQ48/17.02 Luan van Báo cáo thực tập tốt nghiệp Học viện tài chính AGRISECO vẫn chưa sử dụng hết những khả năng nội tại của mình để đạt đến xây dựng một bộ máy hoàn thiện với mô hình dịch vụ môi giới chuyên nghiệp, trình độ cao, khả năng tài chính tương đối ổn định. Do vậy, việc tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ MGCK tại các CTCK nói chung và tại AGRISECO nói riêng là rất quan trọng. Với những lý do trên, em chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt nam – Chi nhánh Giải Phóng ” làm chuyên đề tốt nghiệp.
Mục đích nghiên cứu của đề tài : Chuyên đề được nghiên cứu với mục đích: - Hệ thống cơ sở lý luận chung về hoạt động MGCK, cũng như hiệu quả của hoạt động MGCK nói chung. - Phân tích, đánh giá về thực trạng MGCK tại Công ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Giải Phóng, những tồn tại và nguyên nhân. Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động MGCK tại Công ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Giải Phóng 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Chuyên đề lấy hoạt động MGCK tại Công ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Giải Phóng làm đối tượng nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở một số vấn đề lý luận thực tiễn có liên quan trực tiếp đến hoạt đông MGCK nói chung và hoạt động MGCK tại Công SV: Đàm Thị Loan 2 Lớp: CQ48/17.02 Luan van Báo cáo thực tập tốt nghiệp Học viện tài chính ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Giải Phóng nói riêng. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, chuyên đề đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học để phân tích lý luận và luận giải thực tiễn như : phương pháp so sánh, duy vật biện chứng, phân tích hoạt động kinh tế… 5. Kết cấu của chuyên đề Chuyên đề được chia làm 3 chương: Chương1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH GIẢI PHÓNG Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NN & PTNT SV: Đàm Thị Loan 3 Lớp: CQ48/17.02 Luan van Báo cáo thực tập tốt nghiệp Học viện tài chính Chương1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Lý luận chung về công ty chứng khoán 1.
Khái niệm CTCK là một định chế trung gian căn bản của TTCK, một chủ thể có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của TTCK. Đối với nhiều quốc gia, đặc biệt là trong giai đoạn hình thành và phát triển TTCK, CTCK với hoạt động môi giới được xem là hạt nhân của TTCK. Theo điều 59 Luật Chứng khoán năm 2006 của Việt nam thì: CTCK là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, được thành lập theo pháp luật VN để kinh doanh chứng khoán theo giấy phép kinh doanh của UBCKNN cấp. CTCK được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh theo giấy phép kinh doanh do UBCKNN cấp: - Môi giới chứng khoán.
- Tự doanh chứng khoán. - Bảo lãnh phát hành chứng khoán. - Tư vấn đầu tư chứng khoán. Hiện nay, trên thế giới có 2 mô hình phổ biến về CTCK: - Mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán.
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các CTCK độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được tham gia vào kinh doanh chứng khoán. Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước như: Mỹ, Nhật, Hàn quốc, Canada… Mô hình này có ưu điểm là hạn chế được rủi ro cho hệ thống Ngân hàng, tạo điều kiện cho TTCK phát triển. Tuy nhiên khả năng san bằng rủi ro SV: Đàm Thị Loan 4 Lớp: CQ48/17.02 Luan van Báo cáo thực tập tốt nghiệp Học viện tài chính trong kinh doanh bị hạn chế. Trong thời gian gần đây, các nước áp dụng mô hình này có xu hướng giảm dần sự hạn chế đối với ngân hàng thương mại trong nghiệp vụ chứng khoán.
- Mô hình công ty đa năng. Có hai loại công ty đa năng: + Công ty đa năng một phần: Ở đây, ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty con kinh doanh độc lập. Ở Việt nam đang áp dụng mô hình này. + Công ty đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng thương mại được phép kinh doanh tổng hợp (chứng khoán, bảo hiểm, tiền tệ).
Mô hình này có ưu điểm là sự kêt hợp đa năng rất cao nên giảm rủi ro trong hoạt động kinh doanh chung, có khả năng chịu được các biến động của TTCK. Tuy nhiên, nếu thị trường biến động mạnh thì hoạt động kinh doanh dễ bị ảnh hưởng nếu không tách bạch rõ ràng các nghiệp vụ kinh doanh. Các nước châu Âu, Anh, Úc… thường áp dụng mô hình này. Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán Cơ cấu của một CTCK có thể được xây dựng từ đơn giản đến phức tạp tùy thuộc vào quy mô của thị trường, phương thức của chủ sở hữu, khách hàng…Khi TTCK chưa phát triển, CTCK có cơ cấu và hoạt động đơn giản, khi thị trường phát triển thì hoạt động của các CTCK sẽ ngày càng phức tạp và sôi động.
Cơ cấu tổ chức, quy mô kinh doanh cũng như các nghiệp vụ mà CTCK được phép hoạt động tùy thuộc vào tính chất sở hữu của công ty. Cơ quan quyền lực cao nhất của CTCK là hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị bổ nhiệm Ban giám đốc và giám đốc điều hành công ty. Giúp việc cho Hội đồng quản trị có Ban kiểm soát, có nhiệm vụ theo dõi và kiểm soát tất cả các giao dịch chứng khoán.
SV: Đàm Thị Loan 5 Lớp: CQ48/17.02 Luan van Báo cáo thực tập tốt nghiệp Học viện tài chính Theo thông lệ quốc tế, cơ cấu tổ chức của một CTCK gồm các phòng chủ yếu sau: Phòng giao dịch Phòng giao dịch thực hiện các giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán và OTC. Chức năng chính của phòng này là nhận và thực hiện giao dịch tại sở đối với lệnh giao dịch. Thông thường phòng giao dịch bao gồm 3 bộ phận sau: + Bộ phận môi giới cho khách hàng. + Bộ phận tự doanh.
+ Bộ phận nghiên cứu và phân tích chứng khoán. - Phòng kế toán- Tài chính, gồm 2 bộ phận chủ yếu là: + Bộ phận Kế toán: Xử lý các hợp đồng và tài liệu giao dịch, soạn thảo, in ấn, gửi cho khách hàng, nhận tài liệu từ khách hàng, lưu trữ các hợp đồng, chứng từ, lệnh… + Bộ phận Tài chính: Quản lý tài chính của công ty thông qua các tài khoản chứng khoán và tiền, quản lý việc cho khách hàng vay tiền đầu tư vào chứng khoán… - Phòng Maketing: quan hệ với khách hàng của công ty và nhận lệnh. - Phòng Quản trị hành chính tổng hợp. - Phòng lưu ký, đăng ký, lưu trữ.
- Phòng quản lý tài sản. Nhiều CTCK có trụ sở chính ở một thành phố, chi nhánh ở các thành phố khác. Các khách hàng có thể chuyển lệnh của mình qua trụ sở chính hoặc chi nhánh. Các phòng này đem lại nguồn thu nhập cho CTCK bằng cách đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tạo ra sản phẩm phù hợp với các nhu cầu đó.
SV: Đàm Thị Loan 6 Lớp: CQ48/17.02 Luan van Báo cáo thực tập tốt nghiệp Học viện tài chính 1. Vai trò của công ty chứng khoán Vai trò huy động vốn. Các CTCK là các trung gian tài chính có vai trò huy động vốn, là các kênh truyền vốn từ nơi dư thừa tới nơi có nhu cầu sử dụng vốn. Các CTCK thường đảm nhận vai trò này qua các hoạt động về nghiệp vụ ngân hàng đầu tư và MGCK.
Vai trò xác định giá cả chứng khoán. Thông qua SGDCK, TTGDCK, thị trường OTC và các CTCK cung cấp một cơ chế giá nhằm giúp nhà đầu tư có được sự đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị khoản đầu tư của mình. Vai trò thực hiện tính thanh khoản của chứng khoán.