Chương I: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động môi giới chứng khoán của Công ty chứng khoán. - Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động môi giới tại công ty TNHH chứng khoán ACB. - Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động môi giới tại công ty TNHH chứng khoán ACB. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Đã có không ít các đề tài nghiên cứu về thị trường chứng khoán nói chung cũng như về hoạt động của các CTCK ở Việt Nam nói riêng.
Các đề tài đã được các tác giả nghiên cứu theo các cách tiếp cận khác nhau và đã góp phan không nhỏ trong việc xây dựng, bổ sung và ngày càng hoàn thiện hơn về Luật chứng khoán đồng thời tăng cường sự ôn định, chuyên nghiệp, đưa nghề chứng khoán lên một tầm cao mới. ~ Trong luận án tiến sĩ với đề tài “xây dựng mô hình Công ty chứng khoán trong hoạt động của thị trường chứng khoán ở Việt Nam” của tác giả Trần Quốc Tuấn năm 2006, tác giả có đề cập đến vấn đề xây dựng đội ngũ nhân viên môi giới hùng mạnh nhằm gia tăng thị phần môi giới - hoạt động chính của Công ty chứng khoán, nhưng chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ nội dung luận án. Cũng tại luận án tiến sĩ với đề tài “Hướng tới một thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động hiệu quả” của tác giả Nguyễn Thị Ánh Vân năm 2007, tác đã có một chương nói về những giải pháp đẩy mạnh hoạt động tư ví ầu tư trong nghiệp vụ môi giới chứng khoán tại Công ty chứng khoán. Với luận án tiến sĩ đề tài là: “Những giải pháp pháp triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Đức năm 2008, tác giả đã nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp phát nhằm hoàn thiện tổ chức, hoạt động của Công ty chứng khoán, trong đó mảng tự doanh và môi giới được cho là rất quan trọng.
~ Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ đã được bảo vệ cũng đẻ cập về hoạt động của các Công ty chứng khoán trong thị trường chứng khoán hiện nay, + Luận văn của tác giả Nguyễn Hồng Vân với tên đề tài “Các giải pháp. thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam” năm 2008 cũng đã điểm qua về những biến động thăng trằm của TTCKVN sau 8 năm xây dựng và phát triển. Đánh giá những mặt đạt được và phân tích những điểm hạn chế của TTCKVN, tuy nhiên mảng môi giới chứng khoán chỉ được thể hiện trong phân rất nhỏ trong việc đề xuất đưa ra các giải pháp phát triển. + Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Như Châu “Những nhân tô ảnh hưởng đến chat lượng dịch vụ môi giới chứng khoán” năm 2009 tại thành phó Hồ Chí Minh đã nêu lên hiện trạng và chất lượng dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán trên thị trường thành phó Hồ Chí Minh và cung cấp thông tin về các yếu tố để đo lường chất lượng dịch vụ mà khách hàng mong muốn nhận được từ các Công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh,.Tuy nhiên, đề tài chỉ gói gọn vào chất lượng dich vụ về môi giới tại thành phố Hồ Chí Minh, không đi vào các tiêu chí khác nhằm phát triển hoạt động môi giới chứng khoán tại Việt Nam.
Ngoài ra còn rất nhiều luận văn thạc sĩ đã được bảo vệ cũng đề cập về hoạt động của các Công ty chứng khoán trong thị trường chứng khoán hiện nay, tuy nhiên cách tiếp cận là tổng thể và toàn diện về mọi hoạt động của các Công ty chứng khoán từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam được thành lập đến nay. Như vậy có thể nói, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu tập trung vào sự phát triển của hoạt động môi giới chứng khoán, đặc biệt là nghiên cứu tại Công ty TNHH chứng khoán ACB, một trong những Công ty chứng khoán được thành lập đầu tiên tại Việt Nam. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ PHAT TRIEN HOAT DONG MOI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. KHÁI QUÁT VE TH] TRUONG CHUNG KHOAN VA CONG TY CHUNG KHOAN 1.
Khái quát về thị trường chứng khoán a. Khai niệm Thị trường chứng khoán được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua di bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Như vậy, xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạt động về giao dịch mua bán các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán.
Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta giao dịch mua bán chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời. Thị trường chứng khoán phải tồn tại ở một nơi mà ở nơi đó việc mua, bán chứng khoán được thực hiện. Trong quá trình phát triển và hoàn thiện TTCK ở các nước có nền sản xuất và lưu thông hàng hóa lâu đời như Mỹ, Anh, Pháp,.nơi đó tồn tại dưới hai hình thức: TTCK có tổ chức và TTCK phi tô chức. Chứng khoán là các loại giấy tờ có giá và có thể mua bán trên thị trường, gọi là thị trường chứng khoán, khi đó chứng khoán là hàng hóa trên thị trường đó.
Chứng khoán có rất nhiều loại: cô phiếu, trái phiếu và một số loại khác như quyền mua cỗ phiếu mới, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, chứng chỉ quỹ đầu tư. Trong đó hai dạng chính là cổ phiếu và trái phiếu. Cổ phiếu là chứng từ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công ty cô phần. Khi sở hữu cỗ phiếu, người đó trở thành cô đông của công ty.
Trái phiếu là một loại chứng khoán xác nhận nghĩa vụ trả nợ bao gồm cả gốc và lãi của tổ chức phát hành đối với người sở hữu trái phiếu. Tô chức phát hành ở đây có thể là chính phủ (như Trái phiếu kho bạc, Tín phi kho bạc) hay chính quyền địa phương (như Trái phiếu đô thị) nhằm huy động vốn cho một chương trình quốc gia hay dự án nào đó, hoặc công ty nhằm huy động vốn mà không mở rộng đối tượng quản lý. Với tư cách là người sở hữu trái phiếu hay gọi là trái chủ sẽ được quyền ưu tiên thanh toán tài sản thanh lý khi công ty phá sản trước các cô đông. Tuy nhiên trái chủ lại không được tham gia vào các quyết định cũng như tham gia quản lý trong các tổ chức phát hành.
Hiện nay buôn bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán được coi là ngành kinh doanh đơn giản nhất (do ai cũng có thể đầu tư với thủ tục đơn giản) nhưng cũng phức tạp nhất (vì chứa đựng rất nhiều rủi ro). Chứng khoán không chỉ dừng lại là một giấy chứng nhận quyền sở hữu. mà nó đã trở thành một hàng hóa ưa thích cho những nhà đầu tư và đầu cơ. Nha đầu tư thường mua cỗ phiếu của các công ty có triển vọng phát triển vào thời điểm có lợi, trên cơ sở phân tích kỹ thuật, rồi giữ chúng lại lâu dài để hưởng cỗ tức.
Còn nhà đầu cơ kinh doanh cô phiếu bằng cách mua cổ phiếu vào khi dự đoán nó sẽ sớm lên giá sau đó "rình" cơ hội bán cỗ phiếu vào lúc giá đinh điểm đề kiếm lời b. Chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán * Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hị * Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng “TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
* Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thê chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao.
* Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tông hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt đông của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm. * Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sé cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế. Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán Các tô chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được. chia thành các nhóm sau: nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán.