CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN.1 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN. Thị trường chứng khoán (TTCK) là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán, trao đổi các loại chứng khoán, là một bộ phận của thị trường tài chính. TTCK có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động vốn và sử dụng vốn của nền kinh tế thị trường. TTCK Việt Nam đã đi vào hoạt động được hơn 10 năm, trải qua bao thăng trầm thử thách, và đạt được những thành công nhất định.
Thành công đó cũng nhờ có đóng góp của các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là sự ra đời và đóng góp của các công ty chứng khoán. Công ty chứng khoán (CTCK) là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán. Ở Việt Nam, theo quyết định 27/2007/QĐ-BTC ngày 24 tháng 04 năm 2007 của bộ tài chính, CTCK được thành lập dưới hình thức pháp lý là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Đó là những tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán kinh tế độc lập.
Tùy theo vốn điều lệ và đăng ký kinh doanh mà một công ty có thể thực hiện một hoặc một số nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán. Công ty chứng khoán có vai trò quan trọng đối với các tổ chức phát hành, đối với nhà đầu tư, đối với thị trường chứng khoán và đối với cơ quan quản lý thị trường. Xét trên các khía cạnh khác nhau thì vai trò của công ty chứng khoán thể hiện là khác nhau: SV: Chu Quỳnh Trang 4 Lớp: CQ45/17.01 Luan van Luận văn cuối khóa Học viện tài chính 1.1 Đối với các tổ chức phát hành: Mục tiêu khi tham gia vào TTCK của các tổ chức phát hành là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Vì vậy, thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành.2 Đối với các nhà đầu tư: Đối với TTCK, sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư.
Nhưng thông qua các CTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả. Cụ thể, thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư.3 Đối với thị trường chứng khoán: + Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường: Giá cả chứng khoán là do thị trường quyết định. Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và người bán phải thông qua các CTCK vì họ không được tham gia trực tiếp vào quá trình mua bán. Các CTCK là những thành viên của thị trường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá.
Trên thị trường sơ cấp, các CTCK cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên. Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá của các CTCK. Các CTCK còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trường. Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình, nhiều CTCK đã dành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường.
SV: Chu Quỳnh Trang 5 Lớp: CQ45/17.01 Luan van Luận văn cuối khóa Học viện tài chính + Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính: TTCK có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính. Nhưng các CTCK mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì CTCK tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường. Trên thị trường cấp 1, do thực hiện các hoạt động như bảo lãnh phát hành, chứng khoán hóa, các CTCK không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính được đầu tư vì các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ được mua bán giao dịch trên thị trường cấp 2. Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho người đầu tư.
Trên thị trường cấp 2, do thực hiện các giao dịch mua và bán các CTCK giúp người đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại. Những hoạt động đó có thể làm tăng tính thanh khoản của những tài sản tài chính.4 Đối với các cơ quan quản lý thị trường: CTCK có vai trò cung cấp thông tin về TTCK cho các cơ quan quản lý thị trường. Các CTCK thực hiện được những vai trò này bởi vì họ vừa là người BLPH cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua bán chứng khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trường. Một trong những yêu cầu của TTCK là các thông tin cần phải được công khai hóa dưới sự giám sát của các cơ quan quản lý thị trường.
Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK vì các CTCK cần phải minh bạch và công khai trong hoạt động. Các thông tin CTCK cố thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua, bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin về các nhà đầu tư… Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường. Tóm lại, CTCK là một tổ chức chuyên nghiệp trên TTCK, có vai trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành, đối với các cơ SV: Chu Quỳnh Trang 6 Lớp: CQ45/17.01 Luan van Luận văn cuối khóa Học viện tài chính quan quản lý thị trường và đối với TTCK nói chung. Những vai trò này được thế hiện thông qua các nghiệp vụ hoạt động của CTCK.3 Hình thức pháp lý và mô hình hoạt động của công ty chứng khoán.1 Hình thức pháp lý của công ty chứng khoán.
Công ty cổ phần: + Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập, với các chủ sở hữu là các cổ đông. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. + Giấy chứng nhận cổ đông của công ty không thể hiện trách nhiệm trả nợ của công ty mà thể hiện quyền lợi của người sở hữu đối với các tài sản của công ty. Người sở hữu giấy chứng nhận được gọi là cổ đông của công ty.
+ Đại hội đồng cổ đông có quyền bầu bầu hội đồng quản trị của công ty. Hội đồng này sẽ đề ra các chính sách của công ty và chỉ định giám đốc cùng các chức vị quản lý khác để điều hành, quản lý công ty theo các chiến lược kinh doanh đã đề ra. + Công ty vẫn tồn tại bình thường khi quyền sở hữu của công ty bị thay đổi. Công ty hợp danh: + Là loại hình kinh doanh có từ hai chủ sở hữu trở lên.
+ Thành viên được tham gia vào quá trình ra quyết định tổ chức quản lý là các thành viên hợp danh. Các thành viên này chịu trách nhiệm vô hạn về những nghĩa vụ tài chính của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình. Còn lại, các thành viên không tham gia quản lý công điều hành công ty gọi là thành viên góp vốn, họ chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của công ty trong số vốn góp vào công ty trong giới hạn vốn góp của họ vào công ty. Công ty trách nhiệm hữu hạn: + Đây là loại hình công ty đòi hỏi trách nhiệm của các thành viên giới hạn trong số vốn mà họ đã góp vào công ty.
+ Xét về phương tiện huy động vốn cũng đơn giản và linh hoạt hơn so với SV: Chu Quỳnh Trang 7 Lớp: CQ45/17.01 Luan van Luận văn cuối khóa Học viện tài chính công ty hợp danh. Hơn nữa vấn đề tuyển đội ngũ quản lý cũng năng động hơn, không bị giới hạn bó hẹp trong một số đối tác như công ty hợp danh.2 Mô hình hoạt động của công ty. Mô hình hoạt động của CTCK có những đặc điểm khác nhau tùy vào sự phát triển khác nhau của từng khối thị trường. Có thể khái quát mô hình hoạt động của CTCK theo hai nhóm sau: Mô hình công ty chứng khoán đa năng: Theo mô hình này, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính.
Theo đó các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này được tổ chức dưới hai hình thức sau: + Loại đa năng một phần: theo mô hình này các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ. + Loại đa năng toàn phần: các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụ khác. Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh: Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập và chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán.
Mỗi mô hình đều tồn tại những ưu, nhược điểm riêng của nó.Với mô hình thứ nhất, ưu điểm lớn nhất của nó là các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằng việc đa dạng hoá đầu tư. Ngoài ra, mô hình này còn có ưu điểm là tăng khả năng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên thị trường tài SV: Chu Quỳnh Trang 8 Lớp: CQ45/17.01 Luan van Luận văn cuối khóa Học viện tài chính chính.