Lời mở đầu và kết luận, nội dung chính của khóa luận đƣợc bố cục thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Á Châu Chi nhánh Quảng Ninh. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Á Châu Chi nhánh Quảng Ninh. Mặc dù có rất nhiều cố gắng song có hạn và vốn kiến thức còn hạn nên bài khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.
Em rất mong đƣợc sự chỉ bảo của các thầy cô để bài khóa luận tốt nghiệp của em đƣợc hoàn thiện hơn. SV: Nguyễn Thị Nhung - QT1302T Trang 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƢỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG CHƢƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động của NHTM 1.1 Huy động vốn của NHTM * Khái niệm Ngân hàng thương mại ( NHTM) Hệ thống NHTM ra đời đƣợc coi là kết quả lâu dài của quá trình hình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa, của quan hệ hàng hóa tiền tệ. Ở nhiều nƣớc tuy khái niệm về NHTM có những đặc điểm khác nhau nhƣng đều cho rằng NHTM là một doanh nghiệp chuyên kinh doanh tiền tệ, là tổ chức trung gian tài chính, là nơi dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn.
Ngân hàng đƣợc coi là một sản phẩm độc đáo của nền sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trƣờng. Một động lực quan trọng cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Tất cả các quốc gia muốn nền kinh tế của mình phát triển, đều phải xây dựng hệ thống Ngân hàng có chất lƣợng cao. Mỗi nƣớc khác nhau sẽ có một khái niệm và mô hình tổ chức Ngân hàng khác nhau.
Thông thƣờng, ngƣời ta phải dựa vào tính chất và mục đích, đối tƣợng hoạt động của nó trên thị trƣờng tài chính. Ở Việt Nam trong Pháp lệnh Ngân hàng, HTX tín dụng và Công ty tài chính năm 1990 có đƣa ra khái niệm: “Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động thƣờng xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán”. Luật các tổ chức tín dụng (Luật số 02/1997/QH10) Điều 20: “Ngân hàng thƣơng mại là loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Trong đó: “hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là SV: Nguyễn Thị Nhung - QT1302T Trang 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƢỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
*Đặc điểm của NHTM NHTM có những đặc điểm sau đây: Một là: NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh kiếm lời cho nên hoạt động của nó nhằm mục đích chủ yếu là theo đuổi lợi nhuận. Những hoạt động kinh doanh của NHTM là một loại hình kinh doanh đặc thù với chất liệu kinh doanh chủ yếu là quyền sử dụng các khoản tiền, sản phẩm của NHTM có đặc tính phi vật chất và hoạt động của nó gắn liền với quá trình vận động và lƣu thông tiền tệ. Hai là: Hoạt động NHTM là hình thức kinh doanh có độ rủi ro cao hơn so với các hình thức kinh doanh khác và thƣờng có ảnh hƣởng sâu sắc liên quan đến ngành khác và cả nền kinh tế. Do đó, để tránh rủi ro đáng tiếc xảy ra, nhằm kiểm soát và làm giảm nhẹ những tổn hại do ngân hàng vỡ nợ gây ra, chính phủ các quốc gia đặt ra những đạo luật riêng nhằm đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng đƣợc vận hành an toàn và hiệu quả.
Ba là: NHTM là một trung gian tài chính điển hình. Điều này đƣợc thể hiện từ trên hai phƣơng diện: - NHTM là trung gian giữa những ngƣời có vốn và ngƣời cần vốn. - NHTM là trung gian giữa ngân hàng trung ƣơng (NHTW) với công chúng và nền kinh tế. Trƣớc hết, NHTM là trung gian giữa ngƣời có vốn nhàn rỗi và ngƣời cần vốn để tạo điều kiện cho cung cầu về nguồn vốn đƣợc gặp nhau.
Thật vậy trong nền kinh tế luôn tồn tại những ngƣời có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi chƣa dùng đến hay để dành cho những nhu cầu chi tiền sau này. Nhƣng đồng thời cũng có những ngƣời có nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay cho nhu cầu nào đó ở hiện tại. Tuy nhiên, ngƣời có vốn và ngƣời cần vốn không phải lúc nào cũng dễ dàng gặp đƣợc nhau và có nhu cầu và lợi ích phù hợp với nhau. Cho nên, để giải quyết đƣợc mâu thuẫn này cần phải có SV: Nguyễn Thị Nhung - QT1302T Trang 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƢỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG ngƣời thứ ba đứng ra làm trung gian để thỏa mãn đƣợc nhu cầu của cả hai phía.
Và với việc thông qua cầu nối NHTM, những nguồn vốn có thời hạn, số lƣợng khác nhau đã chuyển thành những nguồn vốn phù hợp với nhu cầu của ngƣời cần vốn mà không cần đến việc ngƣời có tiền nhàn rỗi và ngƣời có nhu cầu vè vốn phải trực tiếp gặp nhua. Vì vậy, NHTM đóng vai trò trung gian giữa ngƣời có nguồn vốn nhàn rỗi và ngƣời có nhu cầu về vốn. Bên cạnh đó, NHTM không chỉ là trung gian giữa ngƣời có vốn nhàn rỗi với ngƣời cần vốn mà còn là trung gian giữa NHTW với công chúng và nền kinh tế. NHTW là ngân hàng của các ngân hàng, là cơ quan tổ chức điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, bằng các công cụ của mình nhƣ: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất… đã tác động đến hoạt động của NHTM và NHTM đã chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế.
Ngƣợc lại, hoạt động của các NHTM cũng phản hồi lại NHTW những thông tin của nền kinh tế để làm cơ sở cho NHTW đề ra và chỉ đạo chính sách tiền tệ nhằm thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, tạo việc làm và kiểm soát lạm phát, phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế. *Vai trò của NHTM Trong giai đoạn khởi đầu của quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa nƣớc ta, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, nền kinh tế còn nghèo nàn lạc hậu. Các đơn vị kinh tế cần có vốn để đổi mới trang thiết bị, đào tạo nhân lực cải tiến chất lƣợng hàng hóa và dịch vụ, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh và sản xuất…Điều đó phải đòi hỏi một lƣợng vốn đủ lớn để đáp ứng nhu cầu đầu tƣ phát triển, đủ khả năng tài trợ cho các dự án có quy mô lớn và thời gian đầu tƣ dài. Để đạt tới mục tiêu trở thành một nƣớc công nghiệp vào năm 2020, việc tăng cƣờng tìm kiếm nguồn vốn từ các nguồn khác nhau phục vụ cho sự nghiệp CNH- HĐH là một tất yếu.
Ở Việt Nam nguồn vốn trong nƣớc có thể khai thác qua các kênh cơ bản nhƣ sau: -Vốn ngân sách cấp SV: Nguyễn Thị Nhung - QT1302T Trang 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƢỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG -Vốn huy động qua thị trƣờng tài chính trực tiếp (thị trƣờng chứng khoán). -Vốn huy động qua các trung gian tài chính (tổ chức tín dụng, bảo hiểm công ty tài chính…) Trong điều kiện nƣớc ta hiện nay, nguồn thu ngân sách còn hạn chế nên không thể hoàn toàn trông chờ vào vốn ngân sách. Đối với thị trƣờng tài chính trực tiếp, do thị trƣờng chứng khoán nƣớc ta mới hình thành, hàng hóa cũng khan hiếm, hiệu quả hoạt động chƣa cao, chƣa đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn đầu tƣ cho nền kinh tế. Vì vậy trong thời gian tới việc huy động vốn phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế chủ yếu đƣợc thực hiện qua các trung gian tài chính mà đặc biệt là các NHTM.
Vì vậy hoạt động ngân hàng là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Ta có thể kể đến một số vai trò quan trọng của ngân hàng thƣơng mại nhƣ sau: Thứ nhất: NHTM với hoạt động huy động vốn và cho vay đã giải quyết sự thiếu vốn tạm thời của nền kinh tế, giúp các doanh nhiệp có điều kiện sản xuất kinh doanh. NHTM đóng một vai trò to lớn trong việc thu hút, huy động, tích tụ và tập trung các nguồn tài chính nhàn rỗi trong nền kinh tế góp phần quan trọng tài trợ cho nhu cầu về vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Ngân hàng có khả năng chuyển hóa các khoản tiền gửi nhỏ lẻ và có thời hạn ngắn thành khoản tín dụng lớn có thời hạn dài hơn, tài trợ kịp thời cho nhu cầu đầu tƣ phát triển kinh tế xã hội.
Thứ hai: Hoạt động của các NHTM góp phần tăng cƣờng hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Với chức năng trung gian thanh toán, NHTM đã rút ngắn tốc độ lƣu thông hàng hóa tiền tệ trong nền kinh tế. Với hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng đã làm giảm cả thời gian và chi phí thanh toán nâng SV: Nguyễn Thị Nhung - QT1302T Trang 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƢỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG cao hiệu quả sản xuất kinh doanh góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng của ngân hàng là sự vận dụng trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức.
Qua lãi suất tín dụng ngân hàng thì các doanh nghiệp phải tăng cƣờng công tác hạch toán, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí tăng khả năng sinh lời…để có thể hoàn trả lãi vay và hoàn vốn cho ngân hàng mà vẫn thu đƣợc lợi nhuận. Ngoài ra, công tác thẩm định chỉ cho vay hoặc đầu tƣ với những dự án có hiệu quả của ngân hàng đã buộc các doanh nghiệp phải tìm kiếm phƣơng án sản xuất tối ƣu, bố trí sản xuất hợp lý, hiệu quả để có cơ hội vay vốn ngân hàng và đây là điều kiện để các doanh nghiệp sử dụng vốn vay một cách tối ƣu. Thứ ba: NHTM bằng hoạt động của mình đó là sử dụng việc phân bổ vốn giữa các vùng khác nhau trong một quốc gia.