Microsoft word 10405

Tài liệu nghiên cứu Microsoft word 10405, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Chuyên ngành

Kinh tế quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn tốt nghiệp

2008

117
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM KẾT

LỜI MỞ ĐẦU

0.1. Tính tất yếu của đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

0.3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

0.4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của đề tài

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Kết cấu cấu đề tài

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG CHỦ YẾU VỀ DOANH NGHIỆP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP

1.1. Một số nhận thức chung về doanh nghiệp

1.1.1. Doanh nghiệp

1.1.2. Kinh doanh

1.1.3. Nhà doanh nghiệp

1.2. Một số nhận thức chung về Hội doanh nghiệp

1.2.1. Sự ra đời của Hội doanh nghiệp

1.2.2. Sự cần thiết phải phát huy vai trò của Hội, Hiệp hội trong điều kiện hội nhập Kinh tế quốc tế

1.3. Quan điểm của Đảng và nhà nước về phát triển doanh nghiệp và Hiệp hội doanh nghiệp

1.3.1. Quan điểm của Đảng và nhà nước về phát triển doanh nghiệp

1.3.2. Quan điểm của Đảng về phát triển các Hiệp hội doanh nghiệp

1.4. Bài học kinh nghiệm về nâng cao khả năng hoạt động của các Hội doanh nghiệp của các nước trên thế giới

1.4.1. Kinh nghiệm xây dựng và phát triển của một số Hội doanh nghiệp trên thế giới

1.4.2. Bài học về công tác của các Hội doanh nghiệp đối với Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP TRONG THỜI GIAN QUA

2.1. Trước khi gia nhập WTO

2.1.1. Tình hình chung

2.1.2. Tình hình hoạt động cụ thể

2.1.2.1. Về cơ cấu tổ chức
2.1.2.2. Về hội viên của các Hiệp hội doanh nghiệp
2.1.2.3. Về công tác xây dựng và phát triển tổ chức hội
2.1.2.4. Về hoạt động của các Hiệp hội

2.1.3. Kết quả chung đạt được của các Hiệp hội

2.1.4. Những khó khăn tồn tại của Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

2.2. Hoạt động của Hiệp hội sau khi gia nhập WTO

2.2.1. Tình hình chung

2.2.2. Thách thức

2.2.3. Hạn chế còn tồn tại trong hệ thống Hiệp hội

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

3.1. Thời cơ và thách thức đối với việc thành lập của Hội, Hiệp hội khi Việt Nam hội nhập Kinh tế quốc tế

3.1.1. Thách thức

3.2. Định hướng chiến lược

3.3. Định hướng cụ thể

3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các Hiệp hội doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

3.4.1. Giải pháp về phía nhà nước

3.4.2. Giải pháp về phía Hiệp hội

3.4.3. Giải pháp về phía doanh nghiệp

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Tóm tắt

I. Tổng quan về Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam và vai trò của nó

Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối và hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước. Sự phát triển của các hiệp hội này không chỉ giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các hiệp hội này vẫn còn nhiều hạn chế, cần có những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả hoạt động.

1.1. Sự ra đời và phát triển của Hiệp hội doanh nghiệp

Hiệp hội doanh nghiệp được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu liên kết và hỗ trợ giữa các doanh nghiệp. Sự ra đời của các hiệp hội này là cần thiết trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, giúp các doanh nghiệp có thể hợp tác và phát triển bền vững.

1.2. Vai trò của Hiệp hội trong việc hỗ trợ doanh nghiệp

Hiệp hội doanh nghiệp không chỉ là cầu nối giữa doanh nghiệp và nhà nước mà còn là nơi cung cấp thông tin, tư vấn và hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc phát triển sản xuất kinh doanh. Điều này giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

II. Những thách thức hiện tại đối với Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng các Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Những thách thức này bao gồm sự cạnh tranh khốc liệt từ các doanh nghiệp nước ngoài, cũng như sự thiếu hụt thông tin và nguồn lực. Việc nhận diện và giải quyết những thách thức này là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của các hiệp hội.

2.1. Cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài

Khi Việt Nam gia nhập WTO, các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp nước ngoài. Điều này đòi hỏi các hiệp hội doanh nghiệp phải có những chiến lược phù hợp để hỗ trợ hội viên vượt qua khó khăn.

2.2. Thiếu hụt thông tin và nguồn lực

Nhiều hiệp hội doanh nghiệp hiện nay gặp khó khăn trong việc cung cấp thông tin và hỗ trợ nguồn lực cho các hội viên. Việc cải thiện khả năng cung cấp thông tin và hỗ trợ tài chính là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Hiệp hội doanh nghiệp

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các Hiệp hội doanh nghiệp, cần có những giải pháp cụ thể và đồng bộ. Các giải pháp này bao gồm việc cải thiện quản lý, tăng cường hợp tác quốc tế và phát triển nguồn nhân lực. Những giải pháp này sẽ giúp các hiệp hội hoạt động hiệu quả hơn trong bối cảnh hội nhập.

3.1. Cải thiện quản lý và tổ chức

Cần có những cải cách trong quản lý và tổ chức hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và giảm thiểu chi phí.

3.2. Tăng cường hợp tác quốc tế

Việc mở rộng hợp tác quốc tế sẽ giúp các hiệp hội doanh nghiệp có thêm cơ hội học hỏi và phát triển. Các hiệp hội cần chủ động tham gia vào các diễn đàn quốc tế để nâng cao vị thế và khả năng cạnh tranh.

3.3. Phát triển nguồn nhân lực

Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của các hiệp hội. Cần có các chương trình đào tạo chuyên sâu để nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ của hiệp hội.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về Hiệp hội doanh nghiệp

Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các Hiệp hội doanh nghiệp đã chỉ ra rằng, việc áp dụng các giải pháp cụ thể có thể mang lại kết quả tích cực. Các hiệp hội đã có những bước tiến trong việc hỗ trợ doanh nghiệp, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

4.1. Kết quả đạt được từ các giải pháp đã triển khai

Nhiều hiệp hội đã áp dụng thành công các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động, từ đó giúp các doanh nghiệp hội viên tăng trưởng và phát triển. Những kết quả này đã chứng minh tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ các hiệp hội thành công

Các hiệp hội thành công đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong việc hỗ trợ doanh nghiệp. Việc chia sẻ những kinh nghiệm này sẽ giúp các hiệp hội khác có thể học hỏi và áp dụng.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam cần có những định hướng rõ ràng để phát triển. Việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các hiệp hội không chỉ giúp doanh nghiệp phát triển mà còn góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế.

5.1. Định hướng phát triển trong tương lai

Các hiệp hội cần xác định rõ định hướng phát triển trong tương lai, từ đó xây dựng các chiến lược phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp hội viên.

5.2. Tầm quan trọng của sự liên kết và hợp tác

Sự liên kết và hợp tác giữa các hiệp hội doanh nghiệp là rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động. Các hiệp hội cần chủ động xây dựng mối quan hệ hợp tác chặt chẽ để cùng nhau phát triển.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Microsoft word 10405

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG CHỦ YẾU VỀ DOANH NGHIỆP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP 1.1 Một số nhận thức chung về doanh nghiệp 1.1 Doanh nghiệp Trong các cuốn Từ điển tiếng Việt, khái niệm "doanh nghiệp" được định nghĩa chưa rõ ràng và chưa bao quát hết các loại hình tổ chức kinh doanh. Khái niệm "doanh nghiệp" hiểu theo Luật Doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua tháng 12/2005 là "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài khoản, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh". Tuy nhiên, vì luật này chỉ điều chỉnh các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng nên khái niệm doanh nghiệp qui định trong Luật như trên là theo nghĩa hẹp. Trong thực tế tại Việt Nam, số lượng các doanh nghiệp như trên là khoảng 100.000, trong khi các tổ chức kinh tế qui mô nhỏ như tổ, nhóm, hộ kinh doanh cá thể là hơn 2,5 triệu đơn vị.

Các cơ sở kinh tế này tuy nhỏ về qui mô, nhưng cũng thực hiện đầy đủ các công đoạn của hoạt động kinh doanh, có Giấy đăng ký kinh doanh do chính quyền cấp và cũng nộp thuế kinh doanh theo qui định của Nhà nước. Trong "Báo cáo định hướng chiến lược và chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đến năm 2010" của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì các cơ sở kinh tế nói trên được định nghĩa thuộc khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, tức cũng là các doanh nghiệp. Khái niệm doanh nghiệp được định nghĩa theo Giáo trình Kinh tế vi mô – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân xuất bản năm 2007 là: “Doanh nghiệp là các đơn vị kinh tế cơ sở có chức năng sản xuất - kinh doanh hàng hoá, dịch vụ một cách hợp pháp theo nhu cầu của thị trường nhằm mục tiêu lợi nhuận hoặc hiệu quả kinh tế - xã hội tối đa”. Theo định nghĩa này, về mặt lý thuyết, doanh nghiệp bao hàm tất cả các cơ sở sản xuất - kinh doanh từ các tập đoàn kinh tế lớn đến các hộ gia đình kinh Phạm Bích Ngọc Lớp: Kinh tế quốc tế K46 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp.

Nhưng trong thực tế quản lý ở nước ta hiện nay, pháp luật mới chỉ coi là doanh nghiệp các tổ chức kinh tế đăng ký theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật đầu tư nước ngoài.Hộ gia đình và kinh doanh cá thể chưa được coi là doanh nghiệp. Khái niệm "doanh nghiệp" sử dụng trong chuyên đề được hiểu theo nghĩa như sau: "doanh nghiệp" là các cơ sở kinh tế có đăng ký kinh doanh và thực hiện các hoạt động kinh doanh theo qui định của pháp luật.2 Kinh doanh Nói chung, chúng ta có thể hiểu một cách nôm na kinh doanh là buôn bán. Tuy nhiên không thể đồng nhất kinh doanh và buôn bán là một.Có rất nhiều định nghĩa về nghề buôn bán có thể được tìm thấy trong ngôn từ mô tả các quá trình kinh doanh. Định nghĩa đầu tiên về nghề buôn bán, ra đời từ thế kỷ 18, coi đó là một thuật ngữ kinh tế mô tả quá trình chấp nhận những rủi ro của việc mua hàng ở một mức giá nào đó cố định để rồi bán lại với một mức giá khác không cố định.

Về sau, các nhà bình luận đã mở rộng định nghĩa này và bao gồm trong đó cả việc tập trung các yếu tố sản xuất. Định nghĩa này đưa mọi người đến một câu hỏi khác là liệu việc buôn bán có một chức năng duy nhất hay không hay nó đơn thuần chỉ là một hình thức của việc quản lý. Đầu thế kỷ này, khái niệm đổi mới được đưa thêm vào định nghĩa về việc buôn bán. Đổi mới ở đây có thể là đổi mới quá trình, đổi mới thị trường, đổi mới sản phẩm, đổi mới yếu tố và thậm chí đổi mới về một cơ cấu.

Các định nghĩa sau này mô tả công việc kinh doanh có bao gồm cả việc thành lập các doanh nghiệp mới mà người thành lập nên chúng là những người buôn bán. Như vậy, trong quá trình kinh doanh có hoạt động mua bán và kinh doanh chính là hoạt động đầu tư để thu lợi nhuận. Theo định nghĩa về kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì “Kinh doanh là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Phạm Bích Ngọc Lớp: Kinh tế quốc tế K46 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp.3 Nhà doanh nghiệp Trong cuốn Từ điển tiếng Việt khái niệm nhà doanh nghiệp vẫn chưa được định nghĩa. Trong Giáo trình Quản lý kinh tế có đưa ra khái niệm "cán bộ quản lý sản xuất - kinh doanh": đó là những người trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệp với chế độ tự chủ hạch toán kinh doanh nhằm mục tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất.

Trong thực tế, nhà doanh nghiệp thường được hiểu là những người giữ vị trí lãnh đạo đang trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo qui định của pháp luật.2 Một số nhận thức chung về Hội doanh nghiệp 1.1 Sự ra đời của Hội doanh nghiệp Từ xa xưa, ông bà ta đã thấy lợi ích của sự liên kết và hợp tác, qua câu nói “buôn có bạn bán có phường”. Sự cạnh tranh theo kiểu ‘anh thắng có nghĩa là tôi thua’ đã không còn đúng hẳn, mà giờ đây xu hướng ‘cạnh tranh trong hợp tác’, tức cả hai cùng thắng, đã dần trở thành cung cách mới trong kinh doanh. Nhất là khi tài nguyên xã hội (vốn, kỹ thuật, quản lý, ý tưởng .) đã ngày càng dồi dào, không ai có thể giữ được lâu lợi thế cho riêng mình. Một tính chất khác có ảnh hưởng quan trọng đến xu hướng liên kết: sự phân khúc ngày càng nhỏ của thị trường.

Một ví dụ: ngày nay, trong một đô thị lớn, không thể tìm đâu ra một nhà hàng có thể bán đủ món cho mọi đối tượng khách hàng, vì sở thích của người ta đã ngày càng phân nhánh đến hết mức, tới nỗi có những nhà hàng chỉ chuyên bán món bún, hoặc món cuốn, hoặc bánh mỳ.; thế nhưng chính những nhà hàng ấy lại thành công hơn cả. Khi sự chuyên môn hoá lên đến cao độ, tất yếu dẫn đến nhu cầu liên kết cao độ. Nhà hàng sẽ cần đến nhà cung cấp rau chuyên nghiệp, rồi là quản lý, phục vụ, phụ bếp chuyên nghiệp,. ngoài ra còn phải liên kết với những đơn vị du lịch, công ty truyền thông, báo chí,.

Phạm Bích Ngọc Lớp: Kinh tế quốc tế K46 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp. 16 Sự cạnh tranh và quy luật đào thải khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải có sự đoàn kết, chung lưng góp sức trước hết là vì sự tồn tại, vì lợi ích và tương lai của chính mình. Hơn lúc nào hết, sự ra đời của một tổ chức tập hợp, liên kết, hỗ trợ và đại diện giờ đây đã trở thành một nhu cầu cấp thiết đối với các doanh nghiệp, tạo môi trường cho các doanh nghiệp trao đổi kinh nghiệm, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong phát triển, cung cấp đầy đủ các hoạt động hỗ trợ, xúc tiến, tư vấn phát triển cho các thành viên. Và các Hiệp hội doanh nghiệp ra đời để đáp ứng các nhu cầu đó.

Như vậy, Hội doanh nghiệp là tổ chức tự nguyện bao gồm những người có nhu cầu, mục đích, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên và cộng đồng góp phần phát triển đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Ví dụ: Hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam, Hội doanh nghiệp vừa và nhỏ….2 Sự cần thiết phải phát huy vai trò của Hội, Hiệp hội trong điều kiện hội nhập Kinh tế quốc tế Khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, các Doanh nghiệp không còn được trợ cấp mang tính trực tiếp, cơ quan quản lý Nhà nước không còn là người “vừa đá bóng, vừa thổi còi” mà chỉ còn là trọng tài nên doanh nghiệp bước vào môi trường kinh doanh mới rất minh bạch với sự cạnh tranh hết sức quyết liệt. Mặt khác, tính liên kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sự cao. Do đó, các doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc thâm nhập thị trường và nâng cao uy tín trên trường quốc tế nếu doanh nghiệp đứng đơn lẻ cho nên việc lắng nghe, nắm bắt tình hình hoạt động của các doanh nghiệp của Hiệp hội là cần thiết để tháo gỡ các khó khăn.

Việc tập trung tư vấn, hướng dẫn cung cấp thông tin cho doanh nghiệp những vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế, những cam kết của Việt Nam với WTO là vấn đề mà nhiều doanh nghiệp quan tâm. Cùng với các cơ hội cho doanh nghiệp phát huy hết năng lực của mình, tuy nhiên với các quy định của WTO, các cam kết Phạm Bích Ngọc Lớp: Kinh tế quốc tế K46 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp. 17 song phương, đa biên và các tập quán, thông lệ, luật pháp quốc tế…đã vượt khả năng hiểu biết của các doanh nghiệp kinh doanh trong nước theo tập quán thông thường. Vì thế, vai trò của các Hội, Hiệp hội càng cần thiết với các doanh nghiệp trong việc hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp trong kinh doanh.

Bên cạnh đó, Hiệp hội là tổ chức thích hợp nhất và không thể thay thế trong việc đánh giá chất lượng, điều phối hoạt động và giải quyết mối quan hệ giữa các doanh nghiệp trong nội bộ lĩnh vực đó. Bám sát doanh nghiệp và hơn nữa lại chính là đại diện cho tiếng nói của nhóm doanh nghiệp trong lĩnh vực, hiệp hội sẽ nắm bắt một cách cụ thể và rõ ràng những vận hội và thách thức của ngành, từ đó đưa ra những biện pháp mang tính chính sách để điều tiết một cách hài hoà giữa lợi ích của ngành trong mối tương quan với các lĩnh vực khác, cũng như trong quan hệ và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nội bộ ngành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ