lời mở đầu, danh mục bảng biểu, biểu đồ, sơ đồ, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƢƠNG TÍN – PGD THANH ĐA CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƢƠNG TÍN – PGD THANH ĐA 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GVHD: ThS. Nguyễn Linh Nhâm CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG 1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng 1. Khái niệm Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội, có thể định nghĩa nhƣ sau: Tín dụng là quan hệ kinh tế đƣợc biểu hiện dƣới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó ngƣời đi vay phải trả cho ngƣời cho vay cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định.
Tín dụng còn đƣợc coi là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (ngƣời cho vay) cấp tiền, hàng hoá, dịch vụ, chứng khoán,… dựa vào lời hứa thanh toán lại trong tƣơng lai của bên kia (ngƣời đi vay). Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các chủ thể trong nền kinh tế nhƣ doanh nghiệp và cá nhân. Trong nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò là một định chế tài chính trung gian, vì vậy trong quan hệ tín dụng với các nhà doanh nghiệp và cá nhân, ngân hàng vừa là ngƣời cho vay đồng thời cũng là ngƣời đi vay. Đây là hình thức tín dụng mang tính gián tiếp, trong đó ngân hàng là trung gian tín dụng giữa những ngƣời tiết kiệm và những ngƣời cần vốn để sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng qua đó thu đƣợc lợi nhuận.
Tóm lại, “Tín dụng” có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhƣng nội dung cơ bản của những định nghĩa này là thống nhất. Chúng đều phản ánh một bên là cho vay, còn bên kia là ngƣời đi vay. Quan hệ giữa hai bên đƣợc ràng buộc bởi cơ chế tín dụng và pháp luật hiện hành. Chức năng tín dụng Chức năng phân phối lại tài nguyên Tín dụng là sự chuyển nhƣợng vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác.
Thông qua sự chuyển nhƣợng này tín dụng góp phần phân phối lại tài nguyên, thể hiện ở chỗ: - Ngƣời cho vay có một số tài nguyên tạm thời chƣa dùng đến, thông qua tín dụng, số tài nguyên đó đƣợc phân phối lại cho ngƣời đi vay. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GVHD: ThS. Nguyễn Linh Nhâm - Ngƣợc lại, ngƣời đi vay cũng thông qua quan hệ tín dụng nhận đƣợc phần tài nguyên đƣợc phân phối lại. Chức năng thúc đẩy lƣu thông hàng hoá và phát triển sản xuất Nhờ tín dụng mà quá trình chu chuyển tuần hoàn vốn trong từng đơn vị nói riêng và trong toàn bộ nền kinh tế nói chung đựơc thực hiện một cách bình thƣờng và liên tục.
Do đó, tín dụng góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất và lƣu thông hàng hoá. Phân loại tín dụng Căn cứ vào thời hạn tín dụng - Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dƣới một năm đƣợc xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng, loại tín dụng này chiếm chủ yếu trong các ngân hàng thƣơng mại. Tín dụng ngắn hạn thƣờng đƣợc dùng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lƣu động và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân. - Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 3 năm dùng để cho vay vốn mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm đƣợc sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Căn cứ vào đối tƣợng tín dụng. - Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng cung cấp nhằm hình thành vốn lƣu động nhƣ cho vay để dự trữ hàng hóa, mua nguyên vật liệu cho sản xuất. - Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng cung cấp nhằm hình thành vốn cố định, loại tín dụng này đƣợc thực hiện dƣới hình thức cho vay trung và dài hạn.
Tín dụng vốn cố định thƣờng đƣợc cấp phát phục vụ cho việc đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GVHD: ThS. Nguyễn Linh Nhâm Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng - Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng cung cấp cho các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân để tiến hành sản xuất kinh doanh. - Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
Đặc điểm tâm lý giao dịch của khách hàng cá nhân Để làm hài lòng nhu cầu đa dạng của khách hàng, điều tiên quyết ngân hàng cần phải nắm bắt đƣợc tâm lý khách hàng đến giao dịch. Có thể nhìn nhận cơ bản khách hàng cá nhân có những đặc điểm tâm lý giao dịch nhƣ sau: - Mang nặng tâm lý ngại rủi ro, ngại phiền phức khi giao dịch với ngân hàng. - Ngại giao dịch với ngân hàng vì sợ hé lộ các thông tin cá nhân, nhất là ngƣời có thu nhập cao. - Mặc cảm không dám giao dịch với ngân hàng đối với ngƣời có thu nhập thấp.
- Khách hàng cá nhân thƣờng ít “nhạy cảm” với lãi suất, họ thƣờng chỉ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng. Cho vay tiêu dùng và vai trò của cho vay tiêu dùng 1. Khái niệm, đặc điểm của cho vay tiêu dùng 1. Khái niệm cho vay tiêu dùng Tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Tín dụng đƣợc chia ra làm nhiều loại, trong đó cho vay tiêu dùng là một trong số đó và cũng góp phần đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ta có thể định nghĩa cho vay tiêu dùng nhƣ sau: Cho vay tiêu dùng là một hình thức qua đó ngân hàng chuyển cho khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình) quyền sử dụng một lƣợng giá trị (tiền) trong một khoảng thời gian nhất định, với những thoả thuận mà hai bên đã ký kết (về số tiền cấp, thời gian cấp, lãi suất phải trả.) nhằm giúp cho khách hàng có thể sử dụng những hàng hoá và dịch vụ trƣớc khi họ có khả năng chi trả, tạo cho họ có thể hƣởng một cuộc sống cao hơn. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GVHD: ThS. Nguyễn Linh Nhâm 1.
Đặc điểm của cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng có những đặc trƣng cơ bản sau: Nhu cầu tiêu dùng của khách hàng phụ thuộc vào chu kì kinh tế Đặc điểm này thể hiện rất r ràng qua các giai đoạn của nền kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trƣởng cao, khuyến khích các nhà sản xuất đầu tƣ. Nền kinh tế tăng trƣởng làm cho thu nhập của ngƣời dân tăng lên, cùng với đó là nhu cầu hiện tại khi mà tích luỹ chƣa đủ cũng tăng lên. Khi nền kinh tế suy thoái các nhà đầu tƣ sẽ giảm bớt đầu tƣ, lạm phát và thất nghiệp cũng tăng lên.
Một mặt, làm cho thu nhập của ngƣời dân giảm dẫn đến nhu cầu tiêu dùng giảm vì vậy nhu cầu vay giảm xuống. Mặt khác, giá cả của các mặt hàng tăng cao và kỳ vọng của ngƣời dân cũng giảm đi. Quy mô của cho vay tiêu dùng nhỏ Đặc điểm này của CVTD xuất phát từ đối tƣợng và mục đích đặc thù của nó. Thật vậy, khách hàng vay ngân hàng để chi cho tiêu dùng thông thƣờng, mà những hàng hoá thông thƣờng thì giá trị không quá cao.
Đối với các hàng hoá có giá trị cao nhƣ ô tô, nhà cửa thì thông thƣờng khách hàng đã có sự tích luỹ từ trƣớc và họ chỉ vay ngân hàng để bù đắp phần thiếu hụt tạm thời. Chính vì vậy, so với các khoản vay kinh doanh thì các món vay tiêu dùng có quy mô nhỏ hơn rất nhiều. Trên thực tế không phải tất cả các cá nhân và hộ gia đình đều là đối tƣợng vay tiêu dùng vì một bộ phận trong số họ có thu nhập chƣa đủ để tiếp cận với dịch vụ này. Song với xu thế ngày càng gia tăng thu nhập nhƣ hiện nay, nhu cầu hƣởng thụ của ngƣời dân sẽ gia tăng.
Không những thế, nhu cầu của con ngƣời là vô hạn và nhu cầu này còn gia tăng nhanh hơn thu nhập. Đến lúc này mâu thuẫn giữa mong muốn thoả mãn nhu cầu và khả năng thanh toán sẽ nảy sinh và số ngƣời tìm đến ngân hàng với mục đích vay tiêu dùng sẽ ngày càng tăng. Lãi suất cho vay tiêu dùng cao Chi phí quản lý từng khoản vay tiêu dùng là một trong những khoản mục có chi phí lớn nhất trong các khoản mục tín dụng của ngân hàng. Do quy mô của từng hợp đồng CVTD thƣờng nhỏ mà số lƣợng khoản vay lại lớn nên chi phí giao dịch bình quân cao (chi phí về thông tin, thủ tục, điều hành, giám sát khoản vay.) dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao.
Vì vậy, lãi suất CVTD thƣờng cao hơn so với lãi suất của 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GVHD: ThS. Nguyễn Linh Nhâm các loại cho vay trong lĩnh vực thƣơng mại và công nghiệp. Hơn nữa, hoạt động cho vay tiêu dùng tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn bất kỳ hình thức cho vay nào nên ngân hàng phải đặt lãi suất cao để tƣơng xứng với mức rủi ro này. Trƣớc kia lãi suất của các khoản CVTD thƣờng đƣợc cố định ở một mức nhất định tƣơng đối cao so với các hình thức khác, nó không thay đổi kể từ khi kí hợp đồng cho tới khi đáo hạn.
Tuy nhiên, hiện nay dƣới sức ép cạnh tranh đã buộc các ngân hàng thay đổi phƣơng thức kinh doanh của mình, lãi suất của các khoản vay tiêu dùng đƣợc thả nổi nhƣng nhìn chung vẫn chƣa có sự thả nổi hoàn toàn.