CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU 1.1 Cơ sở lý luận về thương hiệu, giá trị thương hiệu 1.1 Cơ sở lý luận và vai trò thương hiệu 1.1 Cơ sở lý luận: Hiện nay trên thế giới, thương hiệu có nhiều quan điểm của nhiều tác giả nhưng chủ yếu hình thành lên hai quan điểm chủ yếu là: Quan điểm truyền thống, quan điểm tổng hợp về thương hiệu. Theo quan điểm truyền thống: Đã hình thành từ lâu, từ khi sự ra đời và phát triển của ngành tiếp thị đến cuối thế kỷ thứ 20. Theo quan điểm này, thương hiệu chỉ đơn giản là một một yếu tố như tên, hình dáng, ký tự, ký hiệu, nhãn hiệu, hình ảnh, hay sự kết hợp đơn giản của các yếu tố trên nhằm mục đích giúp cho khách hàng, người tiêu dùng biết được sản phẩm hay dịch vụ của công ty, doanh nghiệp và phân biệt sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Qua đó ta nhân thấy thương hiệu chỉ là một thành phần của sản phẩm với vai trò phân biệt sản phẩm của mình và sản sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
Đến cuối thế kỷ thứ 20, nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn toàn cầu hóa với sự cạnh tranh khốc liệt hơn, thì thương hiệu theo quan điểm truyền thống đã có nhiều sự thay đổi. Vì nhiều nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng vai trò của thương hiệu không thể giai thích được bằng quan điểm truyền thống trong giai đoạn này. Do đó quan điểm mới về thương hiệu ra đời, quan điểm tổng hợp. Thương hiệu không chỉ đơn giản là một yếu tố như tên, ký hiệu hay hình ảnh nữa mà nó giờ trở nên phức tạp hơn nhiều.
Bao gồm nhiều thuộc tính cung cấp cho khách hàng các giá trị mà họ đòi hỏi. Người tiêu dùng thường có nhu cầu về chức năng và nhu cầu về tâm lý khi sử dụng sản phẩm. Và sản phẩm chỉ đáp ứng được nhu cầu về chức năng cho khách hàng còn thương hiệu cung cấp cả nhu cầu về chức năng và nhu cầu về tâm lý cho người sử dụng sản phẩm. Dễ dàng nhận thấy được sản phẩm công ty sản xuất thì dễ dàng bị đối thủ cạnh trạnh sao chép để phục vụ cho nhu cầu của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 khách hàng.
Nhưng thương hiệu mỗi công ty, doanh nghiệp đều có những thương hiệu riêng, mang lại hiệu quả, mức độ tâm lýkhác nhau cho khách hàng khi sử dụng thương hiệu của công ty. Hiện nay khi nhắc đến một thương hiệu ta dễ dàng nhớ đến các sản phẩm của thương hiệu đó. Ví dụ như thương hiệu Apple sản phẩm như Macbook, Ipad, iphone; Hãng xe Toyota dễ dàng biết sản phẩm như Vios, Fortuner, Camry, Innova.Qua đó ta thấy được sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu. Thương hiệu là một thành phần của sản Sản phẩm là một thành phần của phẩm thương hiệu Hình 1.1: Mô hình sản phẩm và thương hiệu Nguồn Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2011 1.2 Vai trò của thương hiệu: Thương hiệu không chỉ có vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp mà nó còn mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng và cho quốc gia.
- Đối với doanh nghiệp: Đầu tiên ở mức độ đơn giản nhất ta có thể thấy được thương hiệu dùng để nhận biết sản phẩm này và sản phẩm khác, phân biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Thứ hai: Khi một doanh nghiệp có thương được đăng ký bảo hộ sẽ giúp bảo vệ được sản phẩm của chính mình trước nạn hàng giả, hàng nhái. Thứ ba: Thương hiệu mạnh dễ dàng tạo dựng được sự trung thành của khách hàng. Tạo tiền đề thuận lợi trong việc phát triển sản phẩm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 mới cũng như mở rộng thị trường, quy mô doanh nghiệp.
Thứ tư: Thương hiệu uy tín và nỗi tiếng giúp tăng được giá trị sản phẩm do người tiêu dùng sẵn sàng chi trả thêm để mua uy tín của sản phẩm góp phần tăng doanh số bán hàng và lợi nhuận của doanh nghiệp. Và thương hiệu là một tài sản của doanh nghiệp, mục tài sản vô hình trên bảng cân đối kế toán, góp phần gia tăng giá trị của doanh nghiệp, khẳng định vị thế của mình trên thị trường. Tạo nên rào cản cho các đối thủ cạnh tranh khi muốn gia nhập vào ngành. - Đối với người tiêu dùng: Thương hiệu giúp người tiêu dùng dễ dàng xác định được nguồn gốc của sản phẩm hoặc nhà sản xuất.
Thương hiệu trở thành công cụ giúp khách hàng tìm kiếm sản phẩm cần thiết một cách nhanh chóng tiết kiệm thời gian và công sức, giúp khách hàng dễ dàng trong việc so sánh giữa các thương hiệu với nhau từ sản phẩm cho đến dịch vụ hậu mãi. Khi lựa chọn một sản phẩm, nếu khách hàng lựa chọn sản phẩm của thương hiệu uy tín sẽ giảm thiểu được rủi ro cho chính bản thân khách hàng khi mua hàng. Thương hiệu nỗi tiếng luôn có những chính sách tốt để bảo vệ lợi ích của khách hàng chính mình. - Bên cạnh lợi ích cho doanh nghiệp, cho người tiêu dùng, thương hiệu mạnh còn là niềm tự hào của quốc gia.
Thương hiệu mạnh cũng dễ dàng thu hút được vốn đầu tư của nước ngoài, qua đó phát triển được nền kinh tế nước nhà.2 Cơ sở lý luậngiá trị thương hiệu: Vào những năm 80 thế kỷ XIX, cụm từBrand Equity (giá trị thương hiệu) mới xuất hiện. Tuy nhiên “giá trị thương hiệu” đã nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và các nhà lãnh đạo của các doanh nghiệp. Theo các nghiên cứu từ các tác giả như Lassar, J. Walker Smith, Keller, Aaker, …Giá trị thương hiệu được đánh giá dựa theo hai quan điểm chủ yếu là: Quan điểm đầu tư tài chính và quan điểm của người tiêu dùng.
Đánh giá theo quan điểm đầu tư tài chính: Đánh giá thương hiệu là một tài sản vô hình của doanh nghiệp, góp phần làm tăng giá trị của doanh nghiệp thông qua việc tăng tài sản. Là một tài sản, thương hiệu được định giá bằng việc đánh giá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 về lợi ích hoặc thu nhập sẽ phát sinh trong tương lai do có thương hiệu mang lại và được quy về giá trị tại thời điểm đánh giá (Inter Brand). - Giá trị thương hiệu là giá trị tăng thêm cho doanh nghiệp và khách hàng của sản phẩm được gắn thương hiệu đó (Peter Farquhar, trường Claremont Grandute) - Theo báo cáo mới nhất về danh sách 100 thương hiệu giá trị nhất thế giới năm 2016 của BRANDZTM (cơ sở dữ liệu giá trị thương hiệu của Millward Brown, chứa đựng dữ hơn 650.000 người tiêu dùng và các chuyên gia trên 31 quốc gia, so sánh hơn 23.000 thương hiệu. Và mỗi năm từ năm 2006 được sử dụng tạo ra danh sách 100 thương hiệu hàng đầu thế giới) ta thấy được giá trị của thương hiệu như sau: Đứng đầu danh sách là thương hiệu Apple 246,992 tỷ USD; tiếp Google 173,652 Tỷ USD; Microsoft 115,5 tỷ USD.
- Tại Việt Nam, tính thời điểm cuối năm 2016, 40 thương hiệu giá trị nhất Việt Namđược đánh giá, lựa chọn khách quan từ hơn hàng trăm thương hiệu hàng đầu tại Việt Nam theo tạp chí Forbes Việt Nam bao gồm: Thương hiệu Vinamilk của Công ty cổ phần sữa Việt Namđứng đầu trong top 40 với định giá thương hiệu 1,7 tỷ USD, với giá trị thương hiệu 849,6 triệu USD thì thương hiệu Viettel của tập đoàn viễn thông quân đội đang đứng vị trí thứ 2; Vị trí thứ 3 với giá trị thương hiệu 299,3 triệu USD là thương hiệu Vingroup; Thương hiệu bia Sài Gòn (Sabeco) đứng vị trí thứ 4 với giá trị thương hiệu 254,5 triệu USD; Thương hiệu Masan Consumer đứng vị trí thứ 5 với giá trị 217,9 triệu USD. Bên cạnh đó còn các thương hiệu của lĩnh vực ngân hàng như Vietcombank, Vietinbank, BIDV lần lượt xếp vị trí thứ 7,8,10 với giá trị 137 triệu USD, 134,5 triệu USD, 134,32 triệu USD. Đứng vị trí thứ 12/40 với giá trị 79,8 triệu đô là thương hiệu Vietnam Airline của hãng hàng không Việt Nam… - Để có được bảng xếp hạng này, tạp chí Forbes Việt Nam đã đánh giá thông qua những số liệu trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán, thông tin thu thập trên thị trường chứng khoán qua đó xác định được những lợi ích thương hiệu mang lại cho công ty. Bên cạnh những thương hiệu nỗi tiếng tại Việt Nam trong danh sách của tạp chí Forbes còn có những thương hiệu nỗi tiếng khác như Vinacafé, Tân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Hiệp Phát, Kinh Đô, KimĐan… nhiều thương hiệu tồn tại trên 20 năm nhưng lại không có tên trong danh sách này có nhiều lý do, trong đó quan trọng nhất là số liệu trên báo cáo tài chính phải minh bạch.
- Đối với một nhà quản trị việc đánh giá doanh nghiệp, đánh giá thương hiệu theo quan điểm tài chính như nêu trên giống quy trình kiểm soát, đánh giá thương hiệu mang lại giá trị như thế nào cho công ty, cho doanh nghiệp. Nhưng việc phát triển thương hiệu hiện đang thực hiện có làm gia tăng giá trị thương hiệu công ty đang năm giữ thì phương pháp đánh giá theo quan điểm tài chính không có hiệu quả, không giúp cho nhà quản trị đầu tư đúng vào vấn đề cốt lõi để nâng cao được giá trị thương hiệu của doanh nghiệp. Do đó đánh giá thương hiệu theo quan điểm người tiêu dùng giúp cho nhà quản trị giải quyết vấn đề đầu tư hiệu quả cho thương hiệu. Đánh giá giá trị thương hiệu theo quan điểm người tiêu dùng ta có các học thuyết của các tác giả sau: Theo Theo Keller (1993, 1998), kiến thức của khách hàng (Brand Knowledge) về một thương hiệu chính là giá trị thương hiệu.
Kiến thức của khách hàng này bao gồm hai thành phần chính là: Nhận biết về thương hiệu (Brand Awareness) (1) và Ấn tượng về thương hiệu (Brand Image) (2). Bên 02 thành phần chính còn có các thành phần con như liên tưởng, nhận diện trong thành phần nhận biết; Còn thành phần ấn tượng tác giả tập trung vào các yếu tố chính như sức mạnh, ưu tiên, đồng nhất và đồng hành. Theo Lassar, năm yếu tố: Chất lượng cảm nhận (1); Giá trị cảm nhận (2); Ấn tượng về thương hiệu (3); Lòng tin về thương hiệu của khách hàng (4); Cảm tưởng của khách hàng về thương hiệu (5) đã cấu tạo nên giá trị thương hiệu. Aaker (1991), giá trị thương hiệu là một tập hợp các tài sản có liên quan đến thương hiệu như tên, biểu tượng góp phần làm tăng (giảm) giá trị của sản phẩm đối với doanh nghiệp và khách hàng.