phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục đính kèm thì kết cấu của luận văn gồm 3 Chƣơng: 7 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng nguồn nhân lực và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong Doanh Nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Công ty TNHH sản xuất Phúc Lâm. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Công ty TNHH sản xuất Phúc Lâm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số định nghĩa và khái niệm cơ bản.
Khái niệm nguồn nhân lực. “ Thuật ngữ “Nguồn nhân lực” xuất hiện lần đầu tiên vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX khi có sự thay đổi căn bản về phƣơng thức quản lý hiện đại – quản lý trên cơ sở lấy con ngƣời làm trung tâm. Cho đến nay, do ảnh hƣởng các cách tiếp cận khác nhau và tùy theo mục tiêu cụ thể mà tác giả cũng nhƣ các tổ chức hay các nhà nghiên cứu chuyên sâu đƣa ra những khái niệm khác nhau về NNL ở cả góc độ vĩ mô và vi mô. ” “ Theo Liên Hợp quốc thì (Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2014) nêu rõ “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nƣớc”.
“ Ngân hàng thế giới cho rằng (Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2- 2014) nêu rõ “nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân”. “ Theo Tổ chức Lao động quốc tế (Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2014) thì cho rằng NNL của một quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia LĐ. NNL đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức LĐ cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cƣ có thể phát triển bình thƣờng.
Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng LĐ của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cƣ trong độ tuổi LĐ, có khả năng tham gia vào LĐ, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình LĐ, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ đƣợc huy động vào quá trình LĐ. ” 9 “ Theo Nguyễn Tiệp (2015, tr.23), “Giáo trình nguồn nhân lực”, của trƣờng Đại học Lao động – Xã Hội thì : “NNL bao gồm toán bộ dân cƣ có khả năng lao động”. “ Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008, tr.13), “Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực”, của trƣờng Đại học kinh tế Quốc dân thì cho rằng: “Nguồn nhân lực là một phạm trù dung để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cƣ, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai. Sức mạnh và khả năng đó thể hiện qua số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu dân số, nhất là số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”.
“ Theo Trần Kim Dung (2011), “Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực” cho rằng: “NNL là nguồn lực và khả năng của con ngƣời, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội bao gồm số lƣợng và chất lƣợng lao động. Nguồn nhân lực của tổ chức: bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó. Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực”. “ Theo Bùi Văn Nhơn (2006, tr.72), trong sách “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội” thì: “ Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lƣợng lao động của từng doanh nghiệp, là số ngƣời có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lƣơng”.
“ Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2014, tr.8), “Giáo trình Quản trị Nhân lực”, trƣờng Đại học kinh tế Quốc dân thì: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. “ Trong tất cả các khái niệm trên cho thấy ở mỗi cách tiếp cận hay mục tiêu khác nhau thì các tác giả, nhà nghiên cứu đã đƣa ra các nhận đinh, các khái niệm khác nhau về NNL, nhƣng đều có những điểm chung là nêu rõ đƣợc tầm quan trọng của NNL trong xã hội nói chung và trong các tổ chức, doanh nghiệp nói riêng. 10 “ Nhƣ vậy, Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cƣ, khả năng lao động của xã hội, là tổng hòa thể lực, trí lực, tâm lƣc tồn tại trong toàn bộ lực lƣợng lao động của một quốc gia nói chung và của tổ chức doanh nghiệp nói riêng, đó là kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử cũng nhƣ trong tƣơng lai. Sức mạnh và khả năng đó đƣợc thể hiện thông qua số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu dân số, nhất là số lƣợng, chất lƣợng con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tƣơng lai.
Khái niệm về chất lượng nguồn nhân lực. “ Có rất nhiều công trình nghiên cứu về CLNNL, mỗi công trình đều có cách tiếp cận khác nhau, vì vậy mà cũng có rất nhiều khái niệm, quan điểm khác nhau về CLNNL. ” “ Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008), “Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực”, của trƣờng Đại học kinh tế Quốc dân thì cho rằng: “Trạng thái nhất định của NNL thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong NNL”. “ Theo Nguyễn Tiệp (2015, tr.10), “Giáo trình Nguồn nhân lực”, trƣờng Đại học Lao động – Xã hội cho rằng: “Chất lƣợng NNL là trạng thái nhất định của NNL, là tố chất, bản chất bên trong của NNL, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng nhƣ mức sống của cƣ dân”.
“ Theo Vũ Thị Ngọc Mai (2015), “Luận văn thạc sĩ với đề tài Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Công ty TNHH MTV Khai thác Công trình Thủy lợi Nam Hà Nam” thì: “Chất lƣợng nguồn nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của ngƣời lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng nhƣ thỏa mãn cao nhu cầu của ngƣời lao động”. Theo quan điểm này thì CLNNL đƣợc đánh giá ở khả năng làm việc và hoàn thành mục tiêu của ngƣời lao động. ” “ Theo Nguyễn Thị Thu Nhƣợc (2010), “Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Công ty TNHH một thành viên Âu Lạc Quảng Ninh”, Luận văn thạc sỹ Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc Dân cho thấy chất lƣợng NNL trong tổ chức chủ yếu bao 11 gồm các yếu tố nhƣ: Năng lực, phẩm chất đạo đức và thể chất của ngƣời LĐ có ảnh hƣởng quyết định đến việc hoàn thành những mục tiêu hiện đại và chiến lƣợc trong tƣơng lai của doanh nghiệp đó. ” “ Nhƣ vậy, trong điều kiện kinh tế thị trƣờng mở cửa hội nhâp và cạnh tranh gay gắt thì NNL có trình độ cao luôn đƣợc coi là chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển kinh tế và đời sống của một xã hội nhất định.
Đồng tình với những quan điểm trên thì: “Chất lƣợng NNL trong Doanh nghiệp là tổng thể năng lực về trí lực, thể lực và tâm lực (hay nhân cách) của ngƣời LĐ mà tất cả các yếu tố này kết hợp lại với nhau để hoàn thành tốt những mục tiêu và những chính sách do tổ chức và doanh nghiệp đó đề ra” ” 1. Khái niệm về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. “ Trong thời đại ngày nay, con ngƣời đƣợc coi là một “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế. Bởi vậy, việc nâng cao CLNNL trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực.
Chăm lo đầy đủ đến con ngƣời là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vƣợng của mọi quốc gia. Đầu tƣ cho con ngƣời là đầu tƣ có tính chiến lƣợc, là cơ sở nền tảng cho sự phát triển bền vững. ” “ Theo Nguyễn Hồng Liên (2015), “Luận văn thạc sỹ Quản trị Nhân lực” nêu rằng: “nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong tổ chức chính là nâng cao mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của ngƣời lao động trên các phƣơng diện: thể lực, trí lực, tinh thần so với yêu cầu công việc cụ thể nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung của tổ chứ” ” “ Nhƣ vậy, nâng cao chất lƣợng NNL có thể hiểu là nâng cao giá trị con ngƣời về mọi mặt: thể lực, trí lực, tâm lực cũng nhƣ tất cả các kỹ năng nghề nghiệp… làm cho ngƣời lao động trở thành ngƣời có năng lực, phẩm chất mới đáp ứng tối đa yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nội dung và các tiêu chí đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Thể lực của Nguồn nhân lực: “ Thể lực của NNL là tình trạng sức khỏe của NNL bao gồm các yếu tố cả về mặt thể chất lẫn tinh thần và phải đảm bảo sự hài hòa giữa bên trong và bên ngoài. NNL có thể lực tốt là ngƣời có sức khỏe tốt thể hiện ở sự cƣờng tráng, nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ của cơ bắp trong công việc và có một tinh thần dẻo dai, khả năng vận động trí tuệ, biến tƣ duy thành hành động thực tiễn.