phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu: Phần I: Cơ sở lý luận về đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp. Phần II: Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý ở Công ty Điện lực 1. Phần III: Một số giải pháp chiến lược nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của Công ty Điện lực 1. TÔ CHÂU GIANG – K4 QUẢN TRỊ KINH DOANH PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CỦA PC1 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.
Ngô Quý Tùng, Kinh tế tri thức - xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI, NXB Đại học Quốc gia, năm 2001; 2. Dự báo thế kỷ XXI, NXB thống kê, năm 2000; 3. Quốc Hùng, Học làm giám đốc kinh doanh, NXB Văn hoá thông tin, năm 2005; 4. Lê Quốc Sử, Nghề Giám đốc kinh doanh, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, năm 2004; 5.
GS-TS Đỗ Văn Phức, Quản lý nhân lực của doanh nghiệp, NXB khoa học và kỹ thuật, năm 2004; 6. GS-TS Đỗ Văn Phức, Quản lý doanh nghiệp, NXB LĐ-XH, năm 2006; 7. GS-TS Đỗ Văn Phức, Báo cáo tổng hợp đề tài NCKH cấp bộ, B2005- 28-182; 8. Trần Triệu Anh – Lâm Trạch Viên, Thiết kế tổ chức và quản lý chiến lược nguồn nhân lực, NXB Lao động – xã hội Hà Nội, năm 2004; 9.
PGS – TS Đỗ Hoàng Toàn, lý thuyết quản trị kinh doanh, trường Đại học KTQD, năm 2002 10.PGS – TS Lê Văn Tâm, Giám đốc doanh nghiệp Nhà nước trong cơ chế thị trường, NXB Chính trị quốc gia – Hà Nội, năm 2003 11.Công ty Điện lực 1, báo cáo sản xuất – kinh doanh năm 2000; 12. Công ty Điện lực 1, báo cáo sản xuất năm - kinh doanh 2002; 13. Công ty Điện lực 1, báo cáo sản xuất - kinh doanh năm 2003; 14. Công ty Điện lực 1, báo cáo sản xuất - kinh doanh năm 2004; 15.Công ty Điện lực 1, báo cáo sản xuất - kinh doanh năm 2005; 16.
Công ty Điện lực 1, quy định chức năng, nhiệm vụ cơ bản các phòng ban trong Công ty Điện lực 1 năm 2005; 17. Công ty Điện lực 1, chiến lược phát triển ngành Điện giai đoạn 2004 – 2010; 18. Công ty Điện lực 1, Quy chế cán bộ; 19. Công ty Điện lực 1, quy chế tuyển dụng lao động năm 2005; TÔ CHÂU GIANG – K4 QUẢN TRỊ KINH DOANH PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CỦA PC1 20.Công ty Điện lực 1, Quy chế quản lý, phân và thanh toán quỹ tiền lương SXKD điện của Công ty Điện lực 1, năm 2004.Tạp chí Điện lực năm 2005, năm 2006; 22.
Một số thông tin từ Internet, tạp chí chuyên ngành. TÔ CHÂU GIANG – K4 QUẢN TRỊ KINH DOANH - 1- PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 BẢN CHẤT VÀ MỤC ĐÍCH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. Để tồn tại và phát triển con người phải tiến hành một loạt hoạt động, trong đó hoạt động kinh tế (hoạt động kinh doanh) là hoạt động trọng tâm. Hoạt động đầu tư, tổ chức chi nhằm vào việc thỏa mãn nhu cầu của người khác để có thu thỏa mãn nhu cầu của chính mình được gọi là hoạt động kinh tế, là hoạt động kinh doanh.
Trong kinh tế thị trường hoạt động của doanh nghiệp là đầu tư, sử dụng các nguồn lực tranh giành với các đối thủ phần nhu cầu của thị trường, tạo lập hoặc củng cố vị thế với kỳ vọng đạt hiệu quả cao nhất, bền lâu nhất có thể. Doanh nghiệp là đơn vị tiến hành một hoặc một số hoạt động kinh doanh, là tổ chức làm kinh tế. Doanh nghiệp có thể kinh doanh sản xuất, kinh doanh thương mại, kinh doanh dịch vụ. Như vậy, bản chất của hoạt động của doanh nghiệp là đầu tư, sử dụng các nguồn lực tranh giành với các đối thủ phần nhu cầu của thị trường, những lợi ích mà doanh nghiệp cần và có thể tranh giành.
Mục đích hoạt động của doanh nghiệp là đạt được hiệu quả hoạt động cao nhất, bền lâu nhất có thể. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là kết quả tương quan, so sánh những lợi ích thu được từ hoạt động của doanh nghiệp với phần các nguồn lực (chi phí) cho việc có được các lợi ích đó. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là tiêu chuẩn được sáng tạo để đánh giá, lựa chọn mỗi khi cần thiết. Do đó, cần tính toán tương đối chính xác và có chuẩn mực để so sánh.
Để tính toán được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trước hết cần tính toán được toàn bộ các lợi ích và toàn bộ các chi phí tương thích. Do lợi ích thu được từ HỌC VIÊN: TÔ CHÂU GIANG – K4 – QTKD - 2- hoạt động của doanh nghiệp cụ thể hàng năm thường rất phong phú, đa dạng, hữu hình và vô hình ( tiền tăng thêm, kiến thức, kỹ năng tăng thêm, quan hệ tăng thêm, tăng thêm về công ăn -việc làm, cân bằng hơn về phát triển kinh tế, thu nhập, ảnh hưởng đến môi trương sinh thái, môi trường chính trị - xã hội…) nên cần nhận biết, thống kê cho hết và biết cách quy tính tương đối chính xác ra tiền. Nguồn lực được huy động, sử dụng cho hoạt động của doanh nghiệp cụ thể trong năm thường bao gồm nhiều loại, nhiều dạng, vô hình và hữu hình và có loại chỉ tham gia một phần nên cần nhận biết, thống kê đầy đủ và bóc tách - quy tính ra tiền cho tương đối chính xác. Theo GS, TS kinh tế Đỗ Văn Phức mỗi khi phải tính toán, so sánh các phương án, lựa chọn một phương án đầu tư kinh doanh cần đánh giá, xếp loại A, B, C mức độ tác động, ảnh hưởng đến tình hình chính trị- xã hội và môi trường sinh thái như sau : Bảng các hệ số xét tính lợi ích xã hội - chính trị và ảnh hưởng đến môi trường trong việc xác định, đánh giá hiệu quả sản xuất công nghiệp Việt Nam * Loại ảnh hưởng Năm 2001 - 2006 - 2011 - 2016 - 2005 2010 2015 2020 Loại A Xã hội - chính trị 1, 45 1, 35 1, 25 1, 15 Môi trường 1, 1 1, 2 1, 3 1, 45 Loại B Xã hội - chính trị 1 1 1 1 1 1 1 1 Loại C Xã hội - chính trị 0, 75 0, 80 0, 85 0, 90 Môi trường 0, 85 0, 80 0, 75 0, 70 * Đề tài NCKH cấp bộ (B 2003 – 28 – 108) HỌC VIÊN: TÔ CHÂU GIANG – K4 – QTKD - 3- Sau khi đã quy tính, hàng năm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được nhận biết, đánh giá trên cơ sở các chỉ tiêu : Lãi (Lỗ), Lãi / tổng tài sản, Lãi/ Toàn bộ chi phí sinh lãi, Lãi ròng/ Vốn chủ sở hữu.
Trong kinh tế thị trường doanh nghiệp tiến hành kinh doanh là tham gia cạnh tranh. Vị thế cạnh tranh (lợi thế so sánh) của doanh nghiệp chủ yếu quyết định mức độ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Khi nền kinh tế của đất nước hội nhập với kinh tế khu vực, kinh tế thế giới doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội, đồng thời phải chịu thêm nhiều sức ép mới. Trong bối cảnh đó doanh nghiệp nào tụt lùi, không tiến so với trước, tiến chậm so với các đối thủ là tụt hậu, là thất thế trong cạnh tranh Δ 1 < Δ 2, là vị thế cạnh tranh thấp kém hơn, là bị đối thủ mạnh hơn thao túng, là hoạt động đạt hiệu quả thấp hơn, xuất hiện nguy cơ phá sản, dễ đi đến đổ vỡ hoàn toàn.
Đối thủ cạnh tranh Ta 1 < 2 T1 T2 Thời gian Hình 1.1 Vị thế trong cạnh tranh HỌC VIÊN: TÔ CHÂU GIANG – K4 – QTKD -4- Thực tế của Việt Nam từ trước đến nay và thực tế của các nước trên thế giới luôn chỉ ra rằng : Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp chủ yếu do trình độ (năng lực) lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp đó quyết định.2 BẢN CHẤT, NỘI DUNG VÀ VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP. Hoạt động kinh doanh có một số điểm tương tự như các hoạt động khác của con người, xong nó có cái khác về mục đích, phương pháp tiến hành. Hoạt động kinh doanh là hoạt động tạo ra hàng hóa và đem bán nó với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao, đảm bảo sự bền lâu và người ta đặc biệt quan tâm đến hai vấn đề đó là: Khía cạnh kinh tế (quan hệ lợi ích) và khía cạnh tâm lý của các giải pháp, biện pháp, thường thì có sự quan tâm và liên quan đến lợi ích của nhiều người, diến ra trong một không gian, một khoảng thời gian và điều kiện nhân - tài - vật lực có giới hạn và sự cạnh tranh quyết liệt. Từ trước tới nay, con người luôn luôn tìm cách đổi mới cách thức tiến hành hoạt động kinh doanh nhằm đạt được hiệu quả cao và bền lâu.
Chúng ta khẳng định rằng kinh doanh lớn trong bối cảnh hội nhập - cạnh tranh quốc tế chỉ đạt được hiệu quả cao khi nó được hoạch định, được đảm bảo về tổ chức, được điều phối, được kiểm tra, tức là được quản lý một cách nghiêm túc, khoa học hay nói cách khác là phải có trình độ lao động quản lý cao. Quản lý nền kinh tế quốc dân cũng như quản lý một doanh nghiệp có thể được xem như một hệ thống gồm có hai phân hệ: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý (đối tượng quản lý). Trong hệ thống, chủ thể quản lý và đối tượng quản lý có mối quan hệ qua lại, được gọi là quan hệ quản lý. Quan hệ quản lý trong lĩnh vực kinh tế bao giờ cũng là quan hệ giữa người với người.
Không nên nghĩ rằng, quan hệ quản lý chỉ đơn thuần là tác động một chiều HỌC VIÊN: TÔ CHÂU GIANG – K4 – QTKD -5- giữa chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý. Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý có mối quan hệ tác động qua lại và gắn bó với nhau một cách hữu cơ trong hệ thống. Như vậy, quản lý kinh tế là sự tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý là những người lao động để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong qúa trình sản xuất xã hội nhằm đạt mục tiêu đã định. Hiện nay, có rất nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý.
Có ý kiến cho rằng quản lý là hành chính, là cai trị, ý kiến khác lại cho rằng: Quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy.