CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ 1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng cán bộ cấp xã 1.1 Khái niệm cán bộ Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt do Nguy n Như Ý chủ biên thì Cán bộ Người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà nước. Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường. Theo Điều Luật cán bộ, công chức ban hành ngày 1 /11/2008 Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh , ở huyện, quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện , trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [1]. Từ những định nghĩa nêu trên, c thể hiểu "cán bộ" là khái niệm dùng để chỉ những người ở trong cơ cấu của một tổ chức nhất định, c trọng trách hoàn thành nhiệm vụ theo chức năng được tổ chức đ phân công.
Như vậy, c nhiều quan niệm về cán bộ, nhưng tựu chung lại, c hai cách hiểu cơ bản Cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị xã hội, các doanh nghiệp nhà nước và các lực lượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến địa phương và cơ sở. Cán bộ là những người giữ chức vụ trong một cơ quan hay một tổ chức để phân biệt với người không c chức vụ. Từ những khái niệm về cán bộ nêu trên cho thấy, người cán bộ c bốn đặc trưng cơ bản Cán bộ được sự ủy nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. lấy danh nghĩa của các tổ chức đ để hoạt động.
Cán bộ giữ một chức vụ, một trọng trách nào đ trong một tổ chức của hệ thống chính trị. 5 Cán bộ phải thông qua tuyển chọn hay phân công công tác sau khi hoàn thành chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề; cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử. Cán bộ được hưởng lương và chính sách đãi ngộ căn cứ vào chức danh, nội dung, chất lượng hoạt động và thời gian công tác của họ. Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, cán bộ là người chủ chốt hoặc người làm chuyên môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức làm việc, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn khác.
Họ được hình thành từ tuyển dụng, phân công công tác sau khi tốt nghiệp ra trường, từ bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về cán bộ hết sức khái quát, giản dị và d hiểu. Theo Người "Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng".2 Khái niệm cán bộ chủ chốt cấp xã Chính quyền cấp xã, thị trấn là cấp chính quyền gần dân nhất, là cầu nối trực tiếp giữa hệ thống chính quyền cấp trên với nhân dân, hàng ngày tiếp xúc, nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Cấp xã c vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế, xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.
Cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cán bộ chủ chốt cấp xã , là công dân Việt Nam được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ Thường trực Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội. Và c được hưởng phụ cấp chức vụ. Cán bộ cấp xã được quy định tại Chương 2, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ [2], gồm c các chức danh sau đây a Bí thư, Ph Bí thư Đảng ủy; 6 b Chủ tịch, Ph Chủ tịch Hội đồng nhân dân; c Chủ tịch, Ph Chủ tịch Ủy ban nhân dân; d Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; e Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; f Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; g Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn c hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và c tổ chức Hội Nông dân Việt Nam ; 1.3 Khái niệm chất lượng cán bộ chủ chốt cấp xã” và các yếu tố tạo nên chất lượng cán bộ 1.1 Chất lượng cán bộ Khi n i về chất lượng đội ngũ cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, cán bộ phải c cả Đức và Tài , trong đ Đức là gốc. Đại hội Đảng lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam (19 6 nhấn mạnh, chất lượng người cán bộ là sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị và năng lực công tác, thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ.
Không thể tách rời và đối lập yêu cầu về phẩm chất với yêu cầu về năng lực công tác, vì thiếu một mặt nào cũng là không đủ tiêu chuẩn của người cán bộ của Đảng và Nhà nước [3]. Từ các quan điểm trên, bước đầu đưa ra quan niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ là sự tương tác phù hợp giữa số lượng, cơ cấu đội ngũ, cùng với chất lượng của mỗi cán bộ hợp thành, đảm bảo cho đội ngũ ấy hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình. Khi đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, thị trấn, một vấn đề đặt ra là hiểu cho đúng thế nào là chất lượng của đội ngũ cán bộ. Chất lượng của đội ngũ cán bộ được xem xét dưới nhiều g c độ khác nhau Chất lượng của đội ngũ cán bộ được thể hiện thông qua hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã, thị trấn ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã, thị trấn.
7 Chất lượng của đội ngũ cán bộ được đánh giá dưới g c độ phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng như hiệu quả công tác của họ. Chất lượng của đội ngũ cán bộ là chỉ báo tổng hợp chất lượng của từng cán bộ. Đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, thị trấn, muốn xác định chất lượng cao hay thấp ngoài việc đánh giá phẩm chất đạo đức phải c hàng loạt chỉ báo đánh giá trình độ năng lực và sự tín nhiệm của nhân dân địa phương. Chẳng hạn, các lớp đào tạo huấn luyện đã qua; bằng cấp (kể cả ngoại ngữ, tin học về chuyên môn, kỹ thuật, quản lý Nhà nước, pháp luật v.; độ tuổi; thâm niên công tác v.
Chất lượng của đội ngũ cán bộ còn được đánh giá dưới g c độ khả năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người cán bộ, công chức đối với công vụ được giao. Từ những g c độ khác nhau nêu trên, c thể đưa ra khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, thị trấn như sau Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, thị trấn là sự thống nhất biện chứng giữa cơ cấu, số lượng của đội ngũ và chất lượng của mỗi cá nhân cán bộ bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao; là kết tinh tổng hợp những chỉ báo tổng hợp đánh giá phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực và khả năng thích ứng, thực hiện c hiệu quả nhiệm vụ được giao của họ.2 Các yếu tố tạo thành chất lượng cán bộ Chất lượng của đội ngũ cán bộ được xác định trên cơ sở các yếu tố về phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực phù hợp với vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức n i chung và của đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, thị trấn n i riêng, về khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Về phẩm chất đạo đức Người cán bộ muốn xác lập được uy tín của mình trước nhân dân, trước hết đ phải là người cán bộ c phẩm chất đạo đức tốt. Xây dựng các tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ, công chức và hình thành ở họ các phẩm chất đạo đức tương ứng với vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ là việc làm cần thiết và cấp bách, nhất là trong sự nghiệp công nghiệp h a, hiện đại h a đất nước hiện nay.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang c sự chuyển biến nhanh ch ng và xã hội xuất hiện nhiều vấn đề hết sức phức tạp, trình độ dân trí ngày một nâng cao, và sự 8 đòi hỏi của xã hội đối với đội ngũ cán bộ cũng ngày càng cao hơn. Thêm vào đ , công tác quản lý xã hội cũng đòi hỏi người cán bộ phải tạo lập cho mình một uy tín nhất định đối với nhân dân. Về trình độ năng lực Năng lực là một khái niệm rộng, tùy thuộc vào môi trường và trách nhiệm, vị thế của mỗi người, mỗi cán bộ trong những điều kiện cụ thể. Năng lực là những phẩm chất tâm lý mà nhờ chúng con người tiếp thu tương đối d dàng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và tiến hành một hoạt động nào đấy một cách c kết quả.
Năng lực là tổng hợp các đặc điểm phẩm chất tâm lý phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định bảo đảm cho hoạt động đ đạt được kết quả. Năng lực hình thành một phần dựa trên cơ sở tư chất tự nhiên của cá nhân, và một phần lớn dựa trên quá trình đào tạo, giáo dục và hoạt động thực ti n, cũng như tự rèn luyện của cá nhân. C thể hiểu, năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn c để thực hiện một hoạt động nào đ. Năng lực là những phẩm chất tâm lý, sinh lý tạo cho con người c khả năng hoàn thành một hoạt động nào đ với chất lượng cao.
Mỗi con người c khả năng trong một hoạt động nhất định nào đấy c ích cho xã hội. Nghiên cứu năng lực con người là nghiên cứu sức lực dự trữ của con người trong lao động hay là tiềm năng của con người đối với lao động.