Chương 1: Tổng quan về chất lượng dịch vụ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. - Chương 2: Thực trạng về chất lượng dịch vụ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín. - Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.
Tổng quan về tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm DNNVV Theo luật doanh nghiệp năm 2005, Doanh nghiệp là mộ tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế rất đa dạng và phong phú, trong đó phân loại dựa vào quy mô có thể chia thành doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo quan niệm của Ngân hàng Thế Giới (WB), DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về phương diện vốn, lao động hay doanh thu. DNNVV có thể chia thanh ba loại căn cứ vào quy mô đó là: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Ở Việt Nam, tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định tại Khoản 1, Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về Định nghĩa Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Phân loại DNNVV theo khu vực kinh tế ở Việt Nam Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ Khu vực Số lao độngTổng nguồn Số lao động Tổng nguồn Số lao động vốn vốn I. Nông, lâm 10 người trở 20 tỷ đồng trở Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 nghiệp và thủy xuống xuống người đến đồng đến 100 người đến sản 200 người tỷ đồng 300 người II.
Công 10 người trở 20 tỷ đồng trở Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 nghiệp và xây xuống xuống người đến đồng đến 100 người đến dựng 200 người tỷ đồng 300 người III. Thương 10 người trở 20 tỷ đồng trở Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 mại và dịch vụ xuống xuống người đến 50 đồng đến 50 người đến người tỷ đồng 100 người [Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, tr. Đặc điểm của DNNVV Là một doanh nghiệp nhưng với quy mô vừa và nhỏ nên bên cạnh những đặc điểm cơ bản của một doanh nghiệp thông thường, DNVVN còn có một số đặc điểm riêng biệt sau: - DNVVN tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế bao gồm các loại hình doanh nghiệp như: Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân. - DNVVN có tính năng động, linh hoạt, tự do sáng tạo trong kinh doanh.
- Các DNVVN dễ dàng và nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, thích ứng với cuộc Cách mạng Khoa học -Công nghệ hiện đại. - Các DNVVN chỉ cần lượng vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi vốn nhanh. Vì thế mà đã hấp dẫn nhiều cá nhân, tổ chức ở mọi thành phần kinh tế đầu tư vào khu vực này. - DNVVN có tỷ suất vốn đầu tư trên lao động thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn, cho nên chúng có hiệu suất tạo việc làm cao hơn.
- Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý ở các DNVVN gọn nhẹ, linh hoạt, công tác điều hành mang tính trực tiếp. Chính vì vậy đã tiết kiệm được chi phí quản lý doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Vị thế của DNVVN trên thị trường thấp, tiềm lực tài chính nhỏ nên khả năng cạnh tranh thấp. Các DNVVN thường gặp khó khăn trong giai đoạn mới hình thành, phần lớn là khó khăn về vốn.
Các NHTM cũng như các tổ chức tài chính khác thường e ngại, không muốn cho DNVVN vay vốn bởi vì họ chưa có quá trình kinh doanh uy tín và chưa tạo lập được khả năng trả nợ. Điều này ngăn cản sự mở rộng doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khác như: thiếu sức cạnh tranh trên thị trường, không kịp thời cải tiến công nghệ sản xuất, khó có điều kiện nâng cao chất lượng lực lượng lao động - Cơ sở vật chất kĩ thuật, trình độ thiết bị công nghệ thường yếu kém, lạc hậu, ít có khả năng huy động vốn để đầu tư đổi mới công nghệ giá trị cao. - Khả năng tiếp cận thông tin và tiếp thị của các DNVVN bị hạn chế rất nhiều. Do quy mô nhỏ và không có mạng lưới, các mối quan hệ rộng nên DNVVN không có hệ thống cung cấp thông tin chuyên môn, không nắm được tình hình biến đổi bên ngoài doanh nghiệp mình như: nguyên liệu, mặt hàng, trình độ công nghệ, đối thủ cạnh tranh.
Các DNVVN không có bộ phận chuyên trách về thu thập và xử lý thông tin. - Trình độ quản lý ở các DNVVN còn bị hạn chế: Nhiều chủ doanh nghiệp tư nhân không có kiến thức quản lý, không có trình độ chuyên môn, thậm chí trình độ văn hoá thấp, không đủ khả năng xây dựng được dự án phát triển kinh doanh và xây dựng dự án đầu tư, xin vay vốn Ngân hàng theo quy định. - Ít có điều kiện để đào tạo nhân công, đầu tư cho nghiên cứu thiết kế cải tiến công nghệ, đổi mới sản phẩm. Trình độ tay nghề công nhân thấp, cơ sở kinh doanh phân tán, lạc hậu.
Cơ sở vật chất hạ tầng nghèo nàn, lạc hậu dẫn đến năng suất lao động thấp và kém sức cạnh tranh hơn so với doanh nghiệp lớn. - Thị trường DNVVN thường nhỏ bé và không ổn định, lại phải chia sẻ với nhiều doanh nghiệp khác. Trong nhiều trường hợp thường bị động vì phụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thuộc vào hướng phát triển của các doanh nghiệp lớn và tồn tại như một bộ phận của doanh nghiệp lớn. Một trong những khó khăn không nhỏ của các DNVVN Việt Nam hiện nay chính là thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Vai trò của DNNVV - Tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo. - Đóng góp vào tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước (GDP), đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước và huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội nhằm đầu tư và phát triển kinh tế. - Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và phân công lao động giữa các vùng, địa phương. - Góp phần đào tạo lực lượng lao động cơ động, linh hoạt và có chất lượng.
- Ngoài ra, DNNVV còn góp phần tạo mội trường kinh doanh, tự do cạnh tranh và giảm độc quyền, đẩy nhanh tiến trình hội nhập quốc tế, phát huy được tiềm lực trong nước. Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Định nghĩa tín dụng ngân hàng Theo khoản 14 và 16 Điều 4 Luật Các Tổ Chức Tín Dụng số 47/2010/QH12: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền thep nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Nếu xem xét tín dụng là một chức năng cơ bản của Ngân hàng thì có thể định nghĩa: “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng hoặc các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác); Trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo các điều kiện đã thỏa thuận (thời LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 gian, phương thức thanh toán lãi – gốc, thế chấp…) bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”.
Đây là hình thức tín dụng rất quan trọng và là quan hệ tín dụng chủ yếu giữa ngân hàng với cá nhân và các doanh nghiệp. Nó là hình thức mà các quan hệ tín dụng được thực hiện thông qua vai trò trung tâm của ngân hàng. Nó đáp ứng phần lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp và cá nhân. Theo đà phát triển của nền kinh tế, hình thức tín dụng thương mại ngày càng trở thành hình thức chủ yếu không chỉ ở trong nước mà còn trên trường quốc tế.
Về cơ bản, trong các NHTM hiện nay tín dụng được chia thành 02 mảng chính: - Tín dụng cá nhân: Phục vụ các khách hàng cá nhân, nhu cầu phục vụ đời sống như: vay mua nhà, mua ôtô, du học, kinh doanh, phục vụ đời sống cá nhân …. - Tín dụng doanh nghiệp: Phục vụ các khách hàng doanh nghiệp, nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh như: cho vay bổ sung vốn lưu động, mua sắm tài sản, thanh toán công nợ khác (trừ trường hợp vay trả nợ ngân hàng khác). Ngoài ra do tính đặc thù của nền kinh tế, các NHTM còn đặc biệt lưu ý đến loại hình tín dụng cho xuất nhập khẩu phục vụ chủ yếu cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV Xuất phát từ những đặc điểm của các DNNVV là tình trạng không minh bạch về tài chính, vốn tự có thấp, khả năng tiếp cận thông tin và thị trường hạn chế.
Thiếu tài sản thế chấp, khả năng chống đỡ rủi ro thấp nên các ngân hàng thường có tâm lý thận trọng hơn khi cho vay các DNNVV vì rủi ro tín dụng là cao hơn nhiều so với khi cho vay các doanh nghiệp lớn.