Nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế tại Chi cục thuế quận 12 - Luận văn thạc sĩ

Bài viết phân tích giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế tại Chi cục thuế quận 12, góp phần cải thiện hiệu quả quản lý thuế.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ kinh tế

2016

111
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ

1.1. Khái niệm dịch vụ

1.2. Dịch vụ công

1.3. Dịch vụ thuế

1.4. Chất lượng dịch vụ

1.5. Vai trò của việc nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế

1.6. Yêu cầu phát triển của nền kinh tế xã hội

1.7. Xuất phát từ nhiệm vụ công tác quản lý thuế trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.8. Xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế

1.9. Xuất phát từ lợi ích của cải cách hành chính thuế

1.10. Đặc điểm chất lượng dịch vụ công

1.11. Các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ công

1.11.1. Các nghiên cứu trước đây

1.11.2. Nghiên cứu trong nước

1.11.3. Nghiên cứu ngoài nước

1.11.4. Các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ công

1.11.5. Sự tin cậy

1.11.6. Cơ sở vật chất

1.11.7. Năng lực phục vụ

1.11.8. Sự đồng cảm

1.12. Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng dịch vụ công của một số địa phương

1.12.1. Cục thuế Hà Nội

1.12.2. Cục thuế tỉnh Lào Cai

1.12.3. Chi cục thuế TP.

1.13. Tóm tắt chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH THUẾ CỦA CHI CỤC THUẾ QUẬN 12

2.1. Giới thiệu chung về Chi cục thuế quận 12

2.1.1. Giới thiệu chung

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ Chi cục thuế quận 12

2.1.3. Cơ cấu tổ chức Chi cục thuế Quận 12

2.2. Các dịch vụ Chi cục thuế Quận 12 cung cấp

2.3. Kết quả thu NSNN

2.4. Phân tích thực trạng chất lượng dịch vụ hành chính thuế tại Chi cục thuế quận 12

2.4.1. Thông tin mẫu nghiên cứu

2.4.2. Xử lý và phân tích dữ liệu

2.4.3. Đánh giá sự tin cậy

2.4.4. Đánh giá cơ sở vật chất

2.4.5. Đánh giá năng lực phục vụ

2.4.6. Đánh giá sự đáp ứng

2.4.7. Đánh giá sự đồng cảm

2.4.8. Tóm tắt kết quả phân tích

2.4.9. Các mặt tồn tại

2.4.10. Nguyên nhân của những tồn tại

2.5. Tóm tắt chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ NGƯỜI NỘP THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN 12

3.1. Định hướng phát triển của Chi cục thuế quận 12 về phục vụ người nộp thuế

3.2. Đề xuất giải pháp đối với Chi cục thuế quận 12

3.2.1. Nhóm giải pháp về sự tin cậy

3.2.2. Nhóm giải pháp về cơ sở vật chất

3.2.3. Nhóm giải pháp về năng lực phục vụ

3.2.4. Nhóm giải pháp về sự đáp ứng

3.2.5. Nhóm giải pháp về sự đồng cảm

3.3. Kiến nghị cục thuế TP.Hồ Chí Minh

3.4. Kiến nghị Tổng cục thuế

3.5. Tóm tắt chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về chất lượng dịch vụ thuế quận 12

Chất lượng dịch vụ thuế tại quận 12 đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự hài lòng của người nộp thuế. Dịch vụ thuế không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế mà còn phản ánh sự chuyên nghiệp của cơ quan thuế. Việc nâng cao chất lượng dịch vụ thuế là một nhiệm vụ cấp bách, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người nộp thuế.

1.1. Khái niệm và vai trò của dịch vụ thuế

Dịch vụ thuế là các hoạt động mà cơ quan thuế cung cấp nhằm hỗ trợ người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Vai trò của dịch vụ thuế không chỉ dừng lại ở việc thu ngân sách mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế trong việc thực hiện các thủ tục hành chính.

1.2. Tình hình hiện tại của dịch vụ thuế quận 12

Dịch vụ thuế tại quận 12 đã có những bước tiến đáng kể trong việc cải cách hành chính. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục, như thời gian xử lý hồ sơ và sự hài lòng của người nộp thuế chưa đạt yêu cầu.

II. Vấn đề và thách thức trong dịch vụ thuế quận 12

Mặc dù đã có nhiều cải cách, nhưng dịch vụ thuế tại quận 12 vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các thủ tục hành chính vẫn còn phức tạp, gây khó khăn cho người nộp thuế. Đặc biệt, sự chậm trễ trong việc xử lý hồ sơ là một trong những vấn đề lớn nhất.

2.1. Các vấn đề tồn tại trong quy trình thuế

Quy trình thuế tại quận 12 còn nhiều bất cập, như việc thiếu minh bạch trong các thủ tục hành chính và sự chậm trễ trong việc trả kết quả cho người nộp thuế.

2.2. Thách thức từ công nghệ thông tin

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế tại quận 12 còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến khả năng xử lý nhanh chóng và chính xác các hồ sơ thuế.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ thuế quận 12

Để nâng cao chất lượng dịch vụ thuế, cần có những giải pháp cụ thể và khả thi. Các giải pháp này không chỉ giúp cải thiện quy trình làm việc mà còn nâng cao sự hài lòng của người nộp thuế.

3.1. Cải cách quy trình thủ tục hành chính

Cần đơn giản hóa các thủ tục hành chính, giảm thiểu thời gian xử lý hồ sơ và tăng cường sự minh bạch trong quy trình làm việc của cơ quan thuế.

3.2. Đào tạo và nâng cao năng lực cán bộ thuế

Đào tạo cán bộ thuế về kỹ năng giao tiếp và xử lý tình huống sẽ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ. Cán bộ thuế cần được trang bị kiến thức về công nghệ thông tin để phục vụ người nộp thuế tốt hơn.

3.3. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin

Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế sẽ giúp cải thiện quy trình làm việc, giảm thiểu sai sót và tăng cường khả năng phục vụ người nộp thuế.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Các giải pháp đã được áp dụng tại quận 12 đã mang lại những kết quả tích cực. Sự hài lòng của người nộp thuế đã tăng lên, và quy trình thuế đã được cải thiện đáng kể.

4.1. Kết quả khảo sát sự hài lòng của người nộp thuế

Khảo sát cho thấy tỷ lệ hài lòng của người nộp thuế đã tăng lên sau khi áp dụng các giải pháp cải cách. Người nộp thuế cảm thấy quy trình làm việc đã trở nên thuận lợi hơn.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ các địa phương khác

Nghiên cứu từ các địa phương khác cho thấy việc cải cách hành chính thuế cần phải được thực hiện đồng bộ và liên tục để đạt được hiệu quả cao nhất.

V. Kết luận và tương lai của dịch vụ thuế quận 12

Dịch vụ thuế tại quận 12 đang trên đà phát triển, nhưng cần tiếp tục cải cách để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người nộp thuế. Tương lai của dịch vụ thuế phụ thuộc vào khả năng thích ứng và cải tiến liên tục.

5.1. Định hướng phát triển dịch vụ thuế

Cần có một chiến lược phát triển dài hạn cho dịch vụ thuế, tập trung vào việc nâng cao chất lượng phục vụ và ứng dụng công nghệ thông tin.

5.2. Khuyến nghị cho các cơ quan thuế

Các cơ quan thuế cần lắng nghe ý kiến của người nộp thuế và điều chỉnh các chính sách cho phù hợp với thực tiễn, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính thuế tại chi cục thuế quận 12

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1.1 Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là bất kỳ hành động hay lợi ích nào mà một bên có thể cung cấp cho bên khác, về cơ bản là vô hình và không đem lại sự sở hữu nào cả (Kotler và Armstrong,2004). Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động trong tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của nhà cung cấp để đáp ứng nhu cầu khách hàng (ISO 9001:2008). Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hóa, nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. Dịch vụ có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hoá khác như tính vô hình, tính không ổn định, tính không thể tách rời và tính không thể lưu trữ.

Tính vô hình: Không giống như những sản phẩm vật chất, dịch vụ không thể nhìn thấy được, không nếm được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy được trước khi người ta mua chúng. Họ sẽ suy diễn về chất lượng dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông tin, biểu tượng và giá cả mà họ thấy. Tính không ổn định: Đặc tính này còn gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ.

Tính không thể tách rời: Dịch vụ thường được tạo ra và sử dụng đồng thời. Đối với sản phẩm hàng hoá, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ, khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ. Tính không thể lưu trữ: Dịch vụ không thể cất giữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hoá khác. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Dịch vụ công Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức, do Nhà nước trực tiếp đảm nhận hay uỷ quyền cho các cơ sở ngoài Nhà nước thực hiện nhằm bảo đảm trật tự, lợi ích chung và công bằng xã hội. Dịch vụ công thuộc về bản chất của bộ máy Nhà nước trong việc quản lý hành chính đối với mọi lĩnh vực và cung ứng dịch vụ công cho các tổ chức và công dân trong xã hội. Chức năng quản lý Nhà nước bao gồm các hoạt động quản lý và điều tiết đời sống kinh tế - xã hội thông qua các công cụ quản lý vĩ mô như pháp luật, chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra, kiểm soát. Chức năng phục vụ bao gồm các hoạt động cung ứng các dịch vụ công cho xã hội, cho các tổ chức và công dân nhằm phục vụ các lợi ích thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân.

Bản chất của việc thực hiện quản lý hành chính là theo nhu cầu của bản thân bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo trật tự, ổn định và công bằng xã hội. Còn việc cung ứng các dịch vụ công lại do nhu cầu cụ thể của các tổ chức và công dân, ngay cả khi các nhu cầu này phát sinh từ những yêu cầu của Nhà nước. Tuy nhiên, khi còn tồn tại nhận thức chức năng quản lý nhà nước là chức năng cai trị thì việc cung cấp các dịch vụ công cũng theo cung cách cai trị. Nghĩa là Nhà nước can thiệp, chỉ đạo trực tiếp mọi lĩnh vực sản xuất và cung ứng dịch vụ công cộng.

Chức năng phục vụ chỉ được tách riêng và giữ một vị trí tương ứng với chức năng quản lý nhà nước khi điều kiện kinh tế - xã hội có sự biến đổi lớn, xu thế dân chủ hoá và đòi hỏi của dân chúng đối với Nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công ngày càng cao hơn. Nhà nước không còn là một quyền lực đứng trên và cai trị nhân dân, mà có trách nhiệm phục vụ nhân dân. Sự phục vụ của Nhà nước được thể hiện bằng các hoạt động cung ứng dịch vụ công cho các tổ chức và công dân. ▪ Phân loại dịch vụ công: Quan niệm về dịch vụ công ở Việt Nam liên quan đến các nhóm dịch vụ cơ bản sau đây: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Thứ nhất, đó là loại dịch vụ có tính chất công cộng phục vụ các nhu cầu chung, cần thiết cho cả cộng đồng và mỗi công dân.

Do tính chất phục vụ các nhu cầu chung của cả cộng đồng nên loại dịch vụ này còn được gọi là dịch vụ công cộng. Các dịch vụ công cộng lại có thể phân chia thành dịch vụ xã hội và dịch vụ kinh tế - kỹ thuật. Dịch vụ xã hội liên quan đến những nhu cầu và quyền lợi cơ bản đối với sự phát triển con người về thể lực và trí lực như y tế, giáo dục, văn hoá, thông tin… Các dịch vụ này thường được gọi là hoạt động sự nghiệp. Dịch vụ kinh tế - kỹ thuật là loại dịch vụ gắn liền với các nhu cầu vật chất phục vụ lợi ích chung của xã hội, bao gồm cung ứng điện, nước, gas, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, vệ sinh môi trường, thuỷ lợi, xây dựng đường sá, cầu cống… Các dịch vụ này do các doanh nghiệp công ích cung ứng và còn gọi là dịch vụ công ích.

Thứ hai, hoạt động đáp ứng các quyền tự do, lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân. Nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp các tổ chức và công dân bằng việc cung cấp các dịch vụ hành chính (còn gọi là dịch vụ hành chính công). Nhà nước cung cấp các dịch vụ hành chính công này là để thực hiện trách nhiệm đối với xã hội, đồng thời để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với xã hội để đảm bảo xã hội phát triển có kỷ cương và trật tự. Khi cung cấp dịch vụ này, Nhà nước sử dụng quyền lực công để tạo ra dịch vụ như cấp các loại giấy phép, đăng ký, chứng thực, thị thực… Các loại giấy tờ này chỉ có giá trị sử dụng khi các cơ quan nhà nước xác nhận chúng bằng thẩm quyền của mình.

Loại dịch vụ này gắn liền với thẩm quyền của nhà nước, vì vậy về nguyên tắc Nhà nước không thể chuyển giao việc cung ứng các dịch vụ này cho tư nhân. Như vậy, khái niệm dịch vụ công bao gồm một số loại dịch vụ khác nhau, thậm chí rất khác biệt nhau về tính chất. Tuy nhiên có thể phân thành ba nhóm chính, đó là: (1) các dịch vụ công cộng cho hoạt động sự nghiệp (giáo dục, y tế, văn hoá…); (2) các dịch vụ công ích (vệ sinh môi trường đô thị, cấp thoát nước, cầu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 đường,…); và (3) các dịch vụ hành chính công (chứng nhận, chứng thực, giấy phép, đăng ký, đăng kiểm, tuyên truyền hỗ trợ …). ▪ Những dịch vụ công này có các đặc điểm sau : Phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu của đông đảo nhân dân.

Do các cơ quan công quyền hay những chủ thể được chính quyền uỷ nhiệm đứng ra thực hiện. Do Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các dịch vụ này cho xã hội. Ngay cả khi Nhà nước chuyển giao dịch vụ này cho tư nhân cung ứng thì Nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này, nhằm khắc phục các khiếm khuyết của thị trường. Khi thực hiện cung ứng các dịch vụ công, các cơ quan Nhà nước và tổ chức được uỷ nhiệm cung ứng có sự giao dịch cụ thể với các tổ chức và công dân.

Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cung ứng các dịch vụ này không nhằm vào mục tiêu lợi nhuận. Thông thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay nói đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, cũng có những dịch vụ mà người sử dụng phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí. ▪ Tính chất của dịch vụ công: Dịch vụ công là những dịch vụ có hai đặc tính cơ bản ở mức độ là: không loại trừ và không cạnh tranh trong việc sử dụng.

Tuỳ thuộc vào mức độ hiện hữu của hai thuộc tính này mà dịch vụ công được chia làm hai nhóm, đó là dịch vụ công thuần tuý và dịch vụ công không thuần tuý. Loại dịch vụ công đảm bảo đầy đủ cả hai thuộc tính (không cạnh tranh và không loại trừ) được gọi là dịch vụ công thuần tuý, như quốc phòng, an ninh, đèn hải đăng…Đối với dịch vụ công này, mọi người dân đều có quyền tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ mà không ảnh hưởng đáng kể đển lợi ích của người khác. Nói theo thuật ngữ kinh tế học công cộng thì chi phí biên cung ứng cho thêm một người sử dụng nữa bằng không. Người dân không phải trả tiền trực tiếp để thụ hưởng dịch vụ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 công thuần tuý, nói đúng hơn là người dân đã trả tiền một cách gián tiếp qua việc đóng thuế vào ngân sách và Nhà nước chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ này.

Xét về bản chất, mục tiêu của Nhà nước là phải tổ chức các chương trình phúc lợi cho dân. Chương trình đó được bao quát trên nhiều lĩnh vực cụ thể như y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, đường xá, cầu cống, thoát nước, bảo hiểm thất nghiệp, nhà trẻ, mẫu giáo, vệ sinh đô thị, thu gom và xử lý chất thải… vì Nhà nước là bộ máy công quyền do dân lập ra; ngân sách Nhà nước chủ yếu từ các khoản thuế của dân. Một phần ngân sách dùng để vận hành bộ máy công quyền, một phần dùng để thực hiện các chương trình phúc lợi xã hội, toàn thể dân chúng đều được hưởng. Dịch vụ công thiếu một trong hai thuộc tính trên được gọi là dịch vụ công không thuần tuý.

Đây là các dịch vụ không phải ai cũng tự nhiên được sử dụng và việc sử dụng của người này cũng có thể làm ảnh hưởng ở mức độ nhất định đối với việc sử dụng của người khác. Phần lớn các dịch vụ công thuộc nhóm không thuần tuý và khu vực tư nhân cũng có thể tham gia cung cấp dịch vụ này dưới sự cho phép của Nhà nước, như giáo dục, y tế, giao thông vận tải, vệ sinh môi trường đô thị, cấp thoát nước… 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ