Đặt vấn đề: thường thông báo dưới dạng chung nhất nhằm gây sự chú ý ban đầu của học sinh, tạo tư thế bắt đầu vào công việc. + Phát biểu vấn đề: người dạy đưa ra các vấn đề cụ thể, khoanh vùng nghiên cứu, đưa học sinh vào hoàn cảnh sẵn sàng, chấp nhận vấn đề, có nhu cầu, mong muốn giải quyết. + Giải quyết vấn đề: thầy/ trò giải quyết vấn đề theo hai logic phổ biến là quy nạp hay diễn dịch. + Kết luận vấn đề: là lúc kết thúc công việc nghiên cứu, người dạy tóm tắt những nội dung cốt lõi, cơ bản dưới dạng khái quát hóa, đồng thời gây ấn tượng mạnh mẽ cho người học, làm cho họ khó quên.
13 HV: Trần Thị Quỳnh Trang Lớp: 2011B QTKD4 Phương pháp thuyết trình: lời nói của giáo viên ngắn gọn, dễ hiểu, giàu hình tượng là hết sức quan trọng. Phương pháp dạy học thuyết trình Khách Kháchthểthể Người học Người dạy Phương pháp thuyết trình có ưu nhược điểm sau: Ưu điểm: - Dễ thực hiện đối với giáo viên vì có thể tiến hành ngay cả khi không có một phương tiện dạy học nào. - Giúp người học nắm được tri thức một cách có hệ thống và hoàn chỉnh. - Ở một mức độ nhất định, phương pháp thuyết trình có khả năng kích thích tích cực đến tư duy và năng lực chú ý của người học.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên làm chủ được thời gian đối với việc truyền thụ tri thức và tác động mạnh mẽ tới tư tưởng, tình cảm của người học thông qua giọng nói và phong cách sư phạm của mình. Nhược điểm: - Làm người học luôn ở thế bị động tiếp thu kiến thức. - Giáo viên không thể nắm được mức độ nắm bắt tri thức của người học. * Phương pháp đàm thoại.
Đàm thoại thực chất là phương pháp trong đó thầy đặt ra một hệ thống các câu hỏi để trò lần lượt trả lời, đồng thời có thể trao đổi qua lại giữa thầy - trò, trò - trò dưới sự chỉ đạo của thầy. Qua quan hệ hỏi - đáp, trò lĩnh hội được nội dung dạy học. Như vậy hệ thống câu hỏi - đáp là nguồn cung cấp và lĩnh hội tri thức. Phương pháp đàm thoại được chia thành ba nhóm sau: 14 HV: Trần Thị Quỳnh Trang Lớp: 2011B QTKD4 - Đàm thoại tái hiện: thầy đặt câu hỏi, trò nhớ lại và trả lời trực tiếp sao cho đầy đủ ý mà câu hỏi đặt ra.
- Đàm thoại giải thích minh họa: là giải thích một thuật ngữ, mệnh đề, công thức, định lý, hay vấn đề nào đó, trong đó kèm theo ví dụ minh họa, chứng minh. - Đàm thoại tìm kiếm: là xây dựng hệ thống câu hỏi và trả lời câu hỏi theo hình thức nêu vấn đề. Theo đó, mỗi nội dung người dạy chia thành những vấn đề dưới dạng câu hỏi, mỗi câu chứa đựng một vấn đề. Khi lên lớp người dạy nêu tên bài, thông báo mục tiêu bài học cho người học sinh định hướng, nêu từng đề mục, đặt câu hỏi trước lớp, để học sinh suy nghĩ, gợi ý học sinh trả lời từng câu hỏi, thầy đi đến tổng kết và đưa ra sự trả lời đúng để học sinh nắm vững và có độ tin cậy.
Những nội dung học được người học đưa vào tiềm thức của bản thân họ (lưu trữ). Yêu cầu đối với việc đặt câu hỏi: - Xác định mục tiêu câu hỏi. - Mỗi câu hỏi chỉ chứa đựng một vấn đề. - Câu hỏi soạn ngắn gọn dễ hiểu, sát với trình độ phát triển của học sinh.
Phương pháp đàm thoại có những ưu nhược điểm sau: - Ưu điểm: kích thích học sinh tích cực tư duy, rèn luyện năng lực diễn đạt, tập trung chú ý. Giáo viên kịp thời phát hiện những thiếu sót của học sinh để bổ sung. - Nhược điểm: phương pháp đàm thoại dễ gây mất thời gian, ảnh hưởng tới kế hoạch dạy học. *Phương pháp làm việc với sách (giáo trình, tài liệu tham khảo) Sách và tài liệu là nguồn tri thức rất phong phú (đặc biệt là sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo).
Nó giúp người học mở rộng những tri thức thu nhận được qua các bài giảng của giáo viên, tự luyện tập nhờ các bài tập và tự kiểm tra bằng các câu hỏi được nêu trong sách giáo khoa. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, phải luôn có sự kết hợp việc giáo viên giảng bài với việc tự học của học sinh theo sách và tài liệu. Việc dạy học với sách và tài liệu có thể thực hiện qua hai quá trình: - Đọc ở trên lớp: Căn cứ vào mục tiêu bài, người dạy định trước cho người 15 HV: Trần Thị Quỳnh Trang Lớp: 2011B QTKD4 học khi lên lớp đọc những nội dung cần đọc, họ đọc có thể hiểu được. Hướng dẫn đọc - khái quát hóa - báo cáo trước lớp - thầy tổng kết - kết luận - học sinh ghi tóm tắt vào vở theo cách ghi của riêng mình.
- Đọc ở nhà: Người dạy hướng dẫn cho người học đọc những phần nội dung sẽ giảng cho lần sau. Trên cơ sở mục tiêu bài để hướng dẫn cho đọc (nội dung trong sách, tạp chí, bản vẽ, sổ tay kỹ thuật,…), đọc xong ghi thành đề cương, đánh dấu ở đề cương những điều chưa hiểu, khi lên lớp hỏi thầy, trao đổi với bạn, sau đó thầy tổng kết - kết luận. Người học trên cơ sở đó hoàn thiện đề cương của mình. Ngày nay, vấn đề mở rộng phạm vi học tập của học sinh theo sách và tài liệu tham khảo được xem như là một loại phương tiện để học sinh độc lập thu nhận các kiến thức và trang bị cho họ năng lực tự bồi dưỡng nâng cao trình độ.
Nhiệm vụ của giáo viên khi sử dụng phương pháp này hướng dẫn người học những quy tắc làm việc với tài liệu như phương pháp đọc, tra cứu, lập dàn ý, làm đề cương, ghi tóm tắt. * Nhóm các phương pháp trực quan. - Trình bày mẫu: là phương pháp tiến hành bằng thị phạm của người dạy và làm thử của người học trước khi cho họ luyện tập để hình thành kỹ năng nghề. - Hướng dẫn học sinh quan sát: trong khi truyền đạt nội dung dạy, để người học hiểu cần huy động nhiều giác quan để nắm vững nội dung học.
Muốn vậy người dạy cần bổ sung vào quá trình dạy - học những bản vẽ, sơ đồ, bảng biểu, mô hình, vật thật, phim chiếu,… Giáo viên thường tiến hành giới thiệu bằng hai con đường diễn dịch hay quy nạp nêu bật lên đối tượng quan sát. Giao cho học sinh nghiên cứu trước, khi đưa ra thầy chỉ đạo, học sinh quan sát, tổng kết, kết luận. - Tự quan sát của học sinh: Phương pháp này giáo viên áp dụng sẽ làm tăng khả năng tự vận động của học sinh trong quá trình nắm vững tri thức, rèn luyện óc quan sát. Đối tượng quan sát của học sinh: bản vẽ, mô hình, vật thật, tranh ảnh,… Giáo viên cung cấp cho học sinh cách quan sát, trình tự quan sát, quan sát cái gì 16 HV: Trần Thị Quỳnh Trang Lớp: 2011B QTKD4 và hướng dẫn họ ghi chép, đến giờ lên lớp tổ chức thảo luận - tổng kết - kết luận.
- Tổ chức cho học sinh thăm quan: Đối tượng thăm quan phần lớn là ở các khu vực ngoài trường như nhà máy, doanh nghiệp, công trường nhằm nâng cao hiểu biết cho học sinh. Mỗi cuộc thăm quan phải xác định mục đích, yêu cầu, nội dung của cuộc tham quan. Khi thăm quan, cần bám sát vào mục đích đã đề ra. Kết thúc cuộc thăm quan học sinh phải viết thu hoạch, tiến hành thảo luận, rút kinh nghiệm, bài học cần thiết cho chương trình đào tạo.
*Nhóm các phương pháp luyện tập - Phương pháp thí nghiệm/thực nghiệm là những phương pháp dạy học đặc biệt cần thiết. Bằng phương pháp này giáo viên tổ chức các hoạt động độc lập của học sinh trong phòng thí nghiệm, khu thực nghiệm nhằm mục đích củng cố vững chắc kiến thức lý thuyết. - Phương pháp luyện tập: phương pháp lặp đi lặp lại nhiều lần những thao tác trí tuệ, những hành động thực tiễn nhất định nhằm hình thành và củng cố những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Cơ sở sinh lý của luyện tập là sự hình thành các mối liên hệ giữa các kiến thức mới với hệ thống kiến thức cũ.
- Phương pháp ôn tập: giúp người học củng cố, mở rộng, đào sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học; qua đó củng cố vững chắc những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển trí tuệ, đặc biệt là khả năng tư duy độc lập của người học. Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên thường phải phối hợp nhiều phương pháp dạy học khác nhau. Việc lựa chọn này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nhiệm vụ, nội dung, mục tiêu của bài học, đối tượng của quá trình dạy học. Tuy nhiên, cho dù sử dụng phương pháp dạy học nào thì quá trình dạy học của người giáo viên vẫn phải đảm bảo được yêu cầu sau: - Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư 17 HV: Trần Thị Quỳnh Trang Lớp: 2011B QTKD4 duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng.
[11,Điều 40] - Phương pháp giáo dục nghề nghiệp phải kết hợp kỹ năng thực hành với giảng dạy lý thuyết để giúp người học có khả năng hành nghề và phát triển nghề nghiệp theo yêu cầu của từng công việc. Xây dựng cơ sở vật chất cho đào tạo. Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo trong mỗi nhà trường là một yếu tố quan trọng quyết định chất lượng đào tạo. Mỗi một ngành nghề đào tạo đòi hỏi hệ thống phương tiện riêng, nhưng chung quy lại thì hệ thống cơ sở vật chất trong nhà trường gồm: phòng học lý thuyết, phòng học thực hành, phòng thí nghiệm, xưởng thực tập, thư viện, ký túc xá, các phương tiện dạy học, khu vui chơi, giải trí, thể dục, thể thao.
Theo điều 17, chương III - Điều lệ trường cao đẳng - do Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành ngày 28 tháng 5 năm 2009, quy định về diện tích sử dụng: - Diện tích dành cho khu học tập, thí nghiệm tối thiểu là 6m2/ học sinh. - Khu ký túc xá tối thiểu là 3m2/ học sinh. - Mỗi phòng học lý thuyết chỉ được có tối đa là 35 học sinh.