đặt vấn đề dân số, lao động việc làm vào vị trí hàng đầu trong hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội. Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011- 2020 với mục tiêu tổng quát đến năm 2020 đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới. Do đó đẩy mạnh hoạt động đào tạo nghề cho người lao động trong giai đoạn hiện nay vừa là nhiệm vụ cấp bách vừa là một yêu cầu tất yếu khách quan để thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của đất nước. Nhận thức rõ được tầm quan trọng, trong những năm gần đây, hoạt động đào tạo nghề đã được Chính phủ, các Bộ Ngành và địa phương đặc biệt quan tâm.
Một số chính sách và giải pháp phát triển đào tạo nghề đã được Chính phủ, các Bộ Ngành xây dựng và ban hành như: Quy hoạch mạng lưới các trường đào tạo nghề trên toàn quốc, kế hoạch đào tạo nghề hàng năm. Trong những năm qua, công tác đào tạo nghề của tỉnh Bắc Giang luôn được sự quan tâm của các cấp, Bộ, ngành Trung ương và tỉnh. Đây là một trong những mục tiêu quan trọng góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội cả nước nói chung và tỉnh Bắc Giang nói riêng. Tính đến tháng 4/2018, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang còn 27 cơ sở GDNN, giảm 16 cơ sở so với năm 2015, trong đó có 02 trường Cao đẳng nghề, 04 trường 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trung cấp nghề, 09 trung tâm và 12 cơ sở có chức năng GDNN.
Bên cạnh việc mở rộng quy mô đào tạo, các cơ sở GDNN đã quan tâm tới công tác nâng cao chất lượng đào tạo; ngoài việc rèn luyện kỹ năng nghề cho người học, các cơ sở dạy nghề đã chú ý đến việc giáo dục vệ sinh, an toàn lao động, ý thức tác phong công nghiệp. Một số cơ sở dạy nghề đã trang bị cho người học nghề kiến thức về khởi sự doanh nghiệp, kiến thức về quản lý doanh nghiệp, maketing. Vì vậy, dạy nghề đã từng bước đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Tuy vậy, chất lượng lao động qua đào tạo nghề còn nhiều hạn chế, bất cập; nâng cao chất lượng đào tạo nghề như một yếu tố khách quan, một yêu cầu hết sức cần thiết.
Điều này không những ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực mà còn ảnh hưởng việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh cũng như trong khu vực. Xuất phát từ thực tiễn tôi lựa chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” làm luận văn thạc sĩ nhằm góp phần làm rõ hơn về mặt lý thuyết và đáp ứng yêu cầu thực tế về đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề tại các cơ sở GDNN của Bắc Giang. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở thực trạng hoạt động đào tạo nghề tại các cơ sở GDNN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang để chỉ ra những hạn chế, tồn tại và đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng đào tạo nghề; - Đánh giá thực trạng nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở GDNN của tỉnh Bắc Giang; - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng đào tạo nghề của tỉnh; - Đề xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU - Hoạt động đào tạo nghề ở các cơ sở GDNN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay diễn ra như thế nào? Chất lượng ra sao? - Có các yếu tố nào ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở các cơ sở này? - Có các thuận lợi gì và có các khó khăn, hạn chế gì trong nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở các cơ sở này? - Nguyên nhân nào dẫn đến những hạn chế, tồn tại trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Giang? - Cần có những giải pháp nào phù hợp với tình hình thực tế nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở các cơ sở DNNN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang? 1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.
Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu về nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở GDNN ở cả ba cấp trình độ đào tạo trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm để nâng cao chất lượng đào tạo nghề của các cơ sở này được thực hiện tốt hơn trong thời gian tới. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Giang. - Phạm vi về thời gian Đề tài nghiên cứu về nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở GDNN tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn 2014-2018.
- Phạm vi nội dung Đề tài tập trung nghiên cứu về nâng cao chất lượng đào tạo nghề của các cơ sở GDNN ở cả ba cấp trình độ đào tạo (cao đẳng, trung cấp và SCN) trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 1. Về lý luận Đề tài được nghiên cứu có hệ thống lý luận gắn với thực tiễn của việc tổ chức đào tạo nghề tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại tỉnh Bắc Giang. Góp 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phần tăng cường nâng cao hiệu quả chất lượng lao động qua đào tạo trong thời gian tới ở địa phương phục vụ phát triển kinh tế địa phương 1.
Về thực tiễn Xác định được thực trạng về tình hình đào tạo nghề tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại tỉnh Bắc Giang. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn. Đề xuất những giải pháp nhằm tăng hiệu quả chất lượng đào tạo nghề tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Kết quả nghiên cứu là những thông tin để các cấp, các ngành, các cơ sở GDNN và doanh nghiệp tại đại phương làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo và vận dụng vào thực tiễn đối với công tác đào tạo nghề, đồng thời góp thêm tư liệu tham khảo phục vụ hoạt động tuyên truyền, học tập và giảng dạy.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Đào tạo nghề Khái niệm đào tạo thường gắn với giáo dục, nhưng hai phạm trù vẫn có một số sự khác nhau tương đối.
Giáo dục được hiểu là các hoạt động và tác động hướng vào sự phát triển và rèn luyện năng lực (bao gồm tri thức, kỹ năng và kỹ sảo) và phẩm chất (niềm tin, tư cách, đạo đức) ở con người để có thể phát triển nhân cách đầy đủ nhất và trở nên có giá trị tích cực đối với xã hội. Hay nói cách khác, giáo dục còn là quá trình khơi gợi các tiềm năng sẵn có trong mỗi con người, góp phần nâng cao các năng lực và phẩm chất cá nhân của cả thầy và trò theo hướng hoàn thiện hơn, đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển trong xã hội loài người đương đại. Thứ nhất, theo từ điển Tiếng Việt, “đào tạo” được hiểu là việc: làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”. Thứ hai, “Đào tạo là quá trình trang bị kiến thức nhất định về mặt chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định” (Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu, 2008).
Thứ ba, từ góc nhìn của các nhà giáo dục và đào tạo Việt Nam, khái niệm tương đối đầy đủ là: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm đạt được các kiến thức, kỹ năng và kỹ sảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động xã hội (nghề nghiệp) cần thiết”. Hay nói cách khác, đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. Giáo dục và đào tạo đều có điểm chung là đều hướng vào việc trang bị kiến thức kỹ năng để phát triển năng lực của người lao động. Tuy nhiên, trong giáo dục nhằm vào những năng lực rộng lớn còn đào tạo lại nhằm vào những 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng lực cụ thể để người lao động đảm nhận công việc xác định, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định.
Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo. Luật Giáo dục nghề nghiệp ngày 27/11/2014 đưa ra khái niệm như sau: “Dạy (đào tạo) nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”. Luật cũng quy định có ba cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề và về hình thức dạy nghề bao gồm cả dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên.