chương 1. Chương 2 là tổng quan lý thuyết về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại. Tổng quan về cho vay, giới thiệu hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của các NHTM, các nghiên cứu đã thực hiện liên quan đến đề tài và phương pháp nghiên cứu của đề tài đều được tác giả trình bày trong chương 2. Chương 3 là phân tích thực trạng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam- Chi nhánh Long An.
Các nội dung được trình bày trong chương này bao gồm: tổng quan về Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, giới thiệu về ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam- chi nhánh Long An, các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân chủ yếu tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam- chi nhánh Long An, thực trạng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam- Chi nhánh Long An, thành tựu, hạn chế và nguyên nhân. Cuối cùng là chương 4- giải pháp mở rộng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam- Chi nhánh Long An. Trong chương này, trước tiên, tác giả sẽ nêu ra những đặc trưng về kinh tế xã hội tại Long An. Sau đó, đưa ra đề xuất nghiên cứu và triển khai cho vay nông nghiệp, nông thôn; đề xuất nghiên cứu và triển khai cho vay cửa hàng, cửa hiệu, kinh doanh hộ gia đình; đề xuất đẩy mạnh cho vay cán bộ công nhân viên và cho vay cán bộ quản lí điều hành; kế hoạch đề xuất thành lập nhóm nghiên cứu thị trường, nhóm phát triển tín dụng tại VCB Long An; kế hoạch đề xuất quảng bá hình ảnh, sản phẩm cho vay của VCB Long An trong năm 2014, 2015.
5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI: 2. Những vấn đề chung về cho vay: Khái niệm cho vay: Cho vay là một trong những dịch vụ ngân hàng truyền thống mà các ngân hàng luôn chú trọng, đặc biệt quan tâm trong quá trình hình thành và phát triển. Đây là một trong những kênh đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng.
Theo mục 1, điều 3 của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) thì cho vay được định nghĩa như sau: “ Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó, tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Trong đời sống hàng ngày, mọi người hay nhầm lẫn tín dụng là cho vay. Tuy nhiên, cho vay chỉ là một trong những hình thức cấp tín dụng. Chúng ta cần phân biệt sự khác nhau giữa cho vay và tín dụng một cách rõ ràng. “ Về mặt tài chính, tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.” ( Nguyễn Minh Kiều, 2009, tr.
Có bốn hình thức cấp tín dụng chính mà các ngân hàng thương mại được phép cấp cho khách hàng là cho vay, bảo lãnh, chiết khấu và cho thuê tài chính. Như vậy, cho vay chỉ là một trong những hình thức cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại. Khi khách hàng cần một số tiền để đầu tư kinh doanh, mua sắm, chi tiêu tiêu dùng. khách hàng có thể tìm đến ngân hàng để được vay.
Ngân hàng sẽ dựa vào một số tiêu chí nhất định để thẩm định phương án kinh doanh của khách hàng, thẩm định phương án hoàn trả nợ gốc và vốn vay, thẩm định năng lực tài chính của đối tượng vay, thẩm định uy tín, tài sản bảo đảm. Nhờ vào một số tiêu chí đó và các công việc thẩm định trên, ngân hàng có cơ sở để đảm bảo một cách tương đối rằng khách hàng có khả năng trả được lãi vay và nợ gốc trong tương lai, từ đó ngân hàng sẽ ra quyết định cho vay hay không và kiểm soát chặt chẽ món vay đó trong trường hợp khách hàng được vay vốn ngân hàng. Khách hàng phải có cam kết rõ ràng về thời gian trả nợ, số tiền phải trả, mục đích sử dụng nợ bằng văn bản pháp luật. 6 Nhờ vào hoạt động cho vay mà ngân hàng đã trở thành kênh luân chuyển trung gian giữa tiền từ nơi thiếu nhu cầu đầu tư kinh doanh sang nơi mà tiền đang rất được cần để đầu tư kinh doanh.
Ngân hàng hưởng được lợi ích từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn, đồng thời bôi trơn guồng máy vận chuyển đồng tiền trong xã hội. Đặc trưng của cho vay: Cho vay có hình thái giá trị tín dụng là tiền tệ: Không giống như các hình thức cấp tín dụng khác, cho vay có hình thái giá trị tín dụng là tiền tệ, xuất hiện từ rất sớm ( chỉ sau chiết khấu). Với hình thái tiền tệ, cho vay có nhiều lợi thế hơn so với các hình thức cấp tín dụng khác bởi vì nó có thể thỏa mãn mọi nhu cầu đa dạng của nhiều tầng lớp khác nhau trong nền kinh tế, trong xã hội. ( Bùi Diệu Anh, 2011) Bản chất của hành vi cho vay là ứng trước nên độ rủi ro cao: khi khách hàng có nhu cầu cần một số tiền vay để đầu tư cho sản xuất kinh doanh hay trang trải cho nhu cầu mua sắm, khách hàng có thể tìm đến ngân hàng để xin vay vốn.
Mặc dù, mỗi khoản vay đều có lãi suất tương ứng và ngân hàng cũng cần thẩm định rất kỹ trước khi cho vay nhưng có những biến cố xảy ra mà cả khách hàng và ngân hàng đều không lường trước được. Tất cả những biến cố đó có thể làm cho khoản vay không được hoàn trả như cam kết ban đầu. Những rủi ro bắt đầu tiềm ẩn và có thể xảy ra bất cứ khi nào từ khi khách hàng nhận được khoản tiền vay cho đến khi thu hồi nợ. “ Rủi ro của một khoản vay còn có nguyên nhân xuất phát từ hình thái giá trị tiền tệ của nó.
Với chức năng là phương tiện thanh toán, tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích khác nhau cho mọi chủ thể trong nền kinh tế và trong xã hội. Chính do sự linh hoạt của mục đích sử dụng tiền nên thực sự rất khó kiểm soát khi tiền đã được chuyển vào tay khách hàng và đây có thể là một trong những lý do dẫn đến thất thoát tiền, không trả nợ được cho ngân hàng. Điều này hoàn toàn không giống trong cho thuê tài chính. Bởi vì trong hình thức cấp tín dụng bằng tài sản thực này, việc khách hàng sử dụng tiền vay sai mục đích được giảm thiểu đến mức thấp nhất, do tài sản đã được tổ chức tín dụng mua về theo sự lựa chọn của khách hàng và giao cho khách hàng quyền sử dụng.
Chính vì cho vay có độ rủi ro cao nên các ngân hàng thường áp dụng rất nhiều biện pháp đa dạng để tăng thêm độ an toàn cho ngân hàng khi cho vay, chẳng hạn quy định về mức vốn đối ứng của phương án vay, quy định về đảm bảo khoản vay, quy định quy trình giải ngân, giám sát khoản vay.Các quy định này không nhất thiết phải có trong các hình thức cấp tín dụng khác.” ( Bùi Diệu Anh, 2011, tr.13) Đối tượng cho vay phong phú: ngân hàng có rất nhiều sản phẩm cho vay đa dạng để phục vụ cho nhu cầu vay vốn của các khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp, và các tổ chức đoàn thể khác. Có thể là cho vay đầu tư xây dựng cơ bản, cho vay tiêu dùng, cho vay bất động sản, cho vay mua sắm thiết bị máy móc, cho vay để hình thành nguồn vốn vay cho các định chế tài chính khác, cho vay kinh doanh, cho 7 vay phát triển nông nghiệp nông thôn, cho vay xây dựng, sửa chữa nhà ở. “Những mục đích vay phong phú có thể dẫn đến những nhu cầu vay hết sức đa dạng về thời gian, về quy mô.nên phạm vi đối tượng cho vay của ngân hàng rất rộng lớn. Chẳng hạn đối với khoản vay kinh doanh, đối tượng cho vay có thể bao gồm nhu cầu phát sinh trong các giai đoạn của một chu kỳ hoạt động: giai đoạn mua vào là nhu cầu thanh toán tiền vật tư hàng hóa, thuế nhập khẩu và các chi phí vận chuyển đi kèm, giai đoạn sản xuất có các chi phí tiền công, nhân công, chi phí sản xuất bằng tiền, giai đoạn tiêu thụ là các chi phí bao bì đóng gói, chi phí bán hàng, chi phí tiêu thụ bằng tiền khác, giai đoạn thu tiền là giá trị các khoản nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán.
Trong khi đó, một khoản vay với mục đích xây dựng cơ bản thì đối tượng cho vay có thể là các chi phí thanh toán vật liệu xây dựng, tiền công.phát sinh trong quá trình xây dựng công trình trung và dài hạn. Với mục đích vay tiêu dùng, đối tượng cho vay có thể là các chi phí thanh toán tiền mua tài sản giá trị lớn như nhà, đất, xe cộ, các vật dụng gia đình, thanh toán chi phí sinh hoạt như: tiền ăn ở, đi lại, học tập, chữa bệnh.” ( Bùi Diệu Anh, 2011, tr. Phương thức cho vay đa dạng: phương thức cho vay chỉ ra cách thức và phương pháp mà ngân hàng tiến hành trong quá trình cho vay. Có những phương thức cho vay, như sau: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo dự án đầu tư, cho vay trả góp, cho vay thông qua phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, cho vay hợp vốn, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay theo hạn mức thấu chi.
( Bùi Diệu Anh, 2011) Phân loại cho vay: Hoạt động cho vay tại ngân hàng được phân chia thành rất nhiều loại, tùy thuộc vào phương thức phân chia. Có thể kể đến một số cách phân chia như sau: Phân chia theo đối tượng khách hàng, cho vay gồm có 2 loại: cho vay khách hàng cá nhân, và cho vay khách hàng doanh nghiệp. Hầu hết, tại các website của các ngân hàng thương mại hiện nay, cho vay được thiết kế và phân chia theo phương thức này. Cho vay khách hàng cá nhân là gói cho vay chỉ dành cho khách hàng cá nhân.