Chương I: Tổng quan nghiên cứu về giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh suất ăn công nghiệp của công ty cổ phần thương mại Hoàng Nhật Minh trên địa bàn các khu công nghiệp miền Bắc. Chương II: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty thương mại. Chương III: Phân tích các kết quả nghiên cứu về thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần thương mại Hoàng Nhật Minh trên địa bàn các khu công nghiệp miền Bắc. Chương IV: Các kết luận và đề xuất với vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh suất ăn công nghiệp của công ty cổ phần thương mại Hoàng Nhật Minh.
SVTH: Lê Thị Hương 5 Lớp: K46C1 Luan van GVHD: Th.S Đinh Thủy Bích Khoa: Marketing CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY THƯƠNG MẠI. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản 2. Khái niệm marketing và marketing – mix Marketing Theo Phillip Kotler “Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những thứ mà họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào hàng và trao đổi những sản phẩm có giá trị với người khác”. Định nghĩa của AMA (1985) “Marketing là một quá trình lập ra kế hoạch và thực hiện các chính sách sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh của của hàng hoá, ý tưởng hay dịch vụ để tiến hành hoạt động trao đổi nhằm thoả mãn mục đích của các tổ chức và cá nhân”.
Ansoff, một chuyên gia nghiên cứu marketing của LHQ, một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu hiện nay cho là khá đầy đủ, thể hiện tư duy marketing hiện đại và đang được chấp nhận rộng rãi: “Marketing là khoa học điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh kể từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, nó căn cứ vào nhu cầu biến động của thị trường hay nói khác đi là lấy thị trường làm định hướng”. Marketing – mix: Marketing Mix là sự phối hợp các biến số Marketing mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được để tạo ra sự đáp ứng cần thiết trong thị trường mục tiêu, nhờ đó giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu đề ra. Các biến số Marketing dịch vụ bao gồm: sản phẩm (Product), giá cả (Price), phân phối (Place), xúc tiến (Promotion), quy trình (Process), con người (People), bằng chứng vật chất (Physical evidence) thường được gọi là 7P. Khái niệm cạnh tranh Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội.
Với đề tài này, thuật ngữ “cạnh tranh” dùng để chỉ cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế, sau đây là một vài khái niệm tiêu biểu về cạnh tranh trong lĩnh vực này: C.Marx định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Trong từ điển kinh doanh của Anh: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình”. Trong đại từ điển Tiếng Việt có ghi: “Cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Để đơn giản hóa có thể hiểu cạnh tranh là một SVTH: Lê Thị Hương 6 Lớp: K46C1 Luan van GVHD: Th.S Đinh Thủy Bích Khoa: Marketing sự ganh đua giữa một nhóm người mà sự nâng cao vị thế của ngừoi này sẽ làm giảm vị thế của người còn lại.
Điều kiện cho sự cạnh tranh trên thị trường là có ít nhất hai chủ thể quan hệ đối kháng và có sự tương ứng giữa sự cống hiến và phần thưởng của mỗi thành viên trên thị trường”. Giáo trình Kinh tế chính trị học Mác – Lênin có nêu ra định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất – kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất – kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh”. Các khái niệm trên có sự khác nhau về diễn đạt và phạm vi, nhưng có nét tương đồng về nội dung.
Vì vậy, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát sau đây về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường: “Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, đối với người sản xuất – kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi”. Khái niệm năng lực cạnh tranh Thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh” đã ra đời từ rất lâu và được sử dụng rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong sách báo chuyên môn, trong giao tiếp hàng ngày của các nhà kinh doanh, các chuyên gia kinh tế,… Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, một doanh nghiệp muốn có một vị trí vững chắc và ngày càng mở rộng, phát triển thì cần phải có một tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh với doanh nghiệp khác trên thị trường, đó chính là năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp. Nói cách khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng thể các yếu tố gắn trực tiếp với hàng hóa cùng với các điều kiện, công cụ và biện pháp cấu thành khả năng của doanh nghiệp trong việc ganh đua nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành khách hàng và đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp.
Nói đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ nói đến chất lượng sản phẩm do doanh nghiệp đó sản xuất ra mà nói đến các biện pháp tiếp thị, quảng cáo, dịch vụ sau bán hàng,… nhằm ngày càng mở rộng thị trường của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm cả năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó lẫn năng lực cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó cung cấp trên thị trường. Các quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Quan niệm tương đối phổ biến là: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chính là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước”. SVTH: Lê Thị Hương 7 Lớp: K46C1 Luan van GVHD: Th.S Đinh Thủy Bích Khoa: Marketing Một quan niệm khác: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của nó so với đối thủ khác trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp mình”.
Cũng có quan niệm: “Năng lực cạnh tranh mang tính chiến lược của doanh nghiệp thể hiện ở việc doanh nghiệp xây dựng và thực hiện thành công chiến lược kinh doanh mà các đối thủ cạnh tranh không thể hoặc rất khó có thể bắt chước hay sao chép được”. Từ các quan niệm trên, ta có thể đưa ra quan niệm tổng quát sau: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng (so với các đối thủ cạnh tranh) đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế”. Khái niệm nâng cao năng lực cạnh tranh Nâng cao năng lực cạnh tranh là thực hiện chiến lược cạnh tranh để doanh nghiệp đạt được các mục tiêu trên thị trường, hay nói cách khác nó là sự kết hợp cuối cùng mà doanh nghiệp tìm kiếm và các phương tiện mà nhờ đó doanh nghiệp đạt được mục tiêu đề ra. Để nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp phải xây dựng một chiến lược cạnh tranh có hiệu quả cao.
Trước hết, công ty phải xây dựng mô hình tổng thể về việc công ty sẽ cạnh tranh như thế nào, mục tiêu của công ty là gì và cần có những chính sách nào để thực hiện những mục tiêu đó. Việc hình thành chiến lược và các chiến thuật cạnh tranh sắc bén là hết sức cần thiết đảm bảo cho sự thắng lợi của doanh nghiệp trên thương trường. Một số lý thuyết về giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của công ty kinh doanh 2. Bản chất của giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh Theo Philip Kotler: “Marketing là làm việc với thị trường để thực hiện những vụ trao đổi với mục đích thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người.
Marketing như một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi.” Quá trình trao đổi đòi hỏi phải làm việc, ai muốn bán thì cần phải tìm người mua, xác định nhu cầu của họ, thiết kế hàng hóa phù hợp đưa ra thị trường, xếp vào kho vận chuyển, thương lượng về giá,… Nền tảng của hoạt động marketing là tạo ra hàng hóa, khảo sát, thiết lập quan hệ giao dịch, tổ chức phân phối, xác định giá cả, triển khai dịch vụ. Với vai trò trên, marketing giúp doanh nghiệp hạn chế những dao động có tính không ổn định và tự phát của thị trường. Thông qua các biện pháp marketing có thể đánh giá, dự báo những thay đổi của thị trường, những chính sách của đối thủ cạnh SVTH: Lê Thị Hương 8 Lớp: K46C1 Luan van GVHD: Th.S Đinh Thủy Bích Khoa: Marketing tranh và yếu tố thuộc về khách hàng. Từ đó có thể ngăn cản, vượt qua những ảnh hưởng xấu tác động tới doanh nghiệp góp phần đạt được mục tiêu lợi nhuận đề ra.
Đồng thời việc vận dụng marketing trở thành công cụ cạnh tranh có hiệu quả trong doanh nghiệp. Trong quá trình triển khai chiến lược cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải vận dụng marketing. Marketing cạnh tranh trong dịch vụ là tổng thể các biện pháp nhằm đảm bảo cải thiện doanh nghiệp, thị trường và các đối thủ cạnh tranh: sản phẩm, giá cả, phân phối, xúc tiến, quy trình, con người và bằng chứng vật chất. Các yếu tố này cấu thành nên giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.