phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Xây dựng Cơ sở lý luận về Marketing du lịch cho du lịch Thành phố Đà Nẵng Chƣơng 2: Xác định giá trị và thị trƣờng mục tiêu Du lịch Thành phố Đà Nẵng của Trung tâm xúc tiến Du lịchĐà Nẵng Chƣơng 3:Các giải pháp Marketing về du lịch của Trung tâm xúc tiến du lịch Thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 7 (LUAN.002 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.002 CHƢƠNG 1: XÂY DỰNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING DU LỊCH CHO DU LỊCH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Mục tiêu và Nội dung chính của Chƣơng: Chương này đềcập tới những cơ sở lý lu ận vềMarketing du lịch, Marketing du lịch cho một địa phương vàmô hình xây dựng các giải pháp Marketing du lịch.Tất cả những cơ sở lý luận này sẽ là cơ sở lý thuyết triển khaiviệc đánh giá nguồn lực, đánh giá thực trạng du lịch Đà Nẵng từ đó xây dựng các giá trị cũng như thị trường mục tiêu mà Đà Nẵng cần có được, duy trì, phát triển ở Chương 2 và xây dựng các giải pháp ở Chương 3. Marketing du lịch 1. Các khái niệm cơ bản trong marketing du lịch 1. Khái niệm du lịch Trong những năm gần đây, trên thế giới đã chứng kiến một sự bùng nổ của hoạt động du lịch trên phạm vi toàn cầu.
Du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia và đã góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế thế giới. Theo Tổ chức Du lịch thế giới – UNWTO (United Nations -World Tourism Organization): “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm”.23] Theo Luật du lịch Việt Nam mà Quốc hội ban hành vào tháng 06/2005 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Tài nguyên du lịch Theo Điều 4, Luật Du lịch của Việt Nam thì “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo 8 (LUAN.002 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.002 của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch (KDL), điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”[4, tr. Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang đƣợc khai thác và chƣa đƣợc khai thác.
- Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể đƣợc sử dụng phục vụ mục đích du lịch. - Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con ngƣời và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể đƣợc sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch có tính chất vô cùng đặc biệt. Vì vậy việc ứng dụng Marketing vào du lịch có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành du lịch.
Vậy sản phẩm du lịch là gì? Nó có những đặc tính gì? Khái niệm về sản phẩm du lịch TheoĐiều 4 chƣơng I Luật Du lịch giải thích: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu du lịch trong chuyến đi du lịch” [4, tr.29] Những đặc tính địa lý (bãi biển, núi rừng, sông suối, khí hậu, không gian thiên nhiên…) cũng nhƣ hạ tầng cơ sở (khách sạn, nhà hàng, đƣờng bay…) bản thân chúng không phải là một sản phẩm du lịch nhƣng chúng lại trở thành sản phẩm du lịch trong một tình trạng nào đó. Kotler và Turner đã định nghĩa về sản phẩm nhƣ sau: “Một sản phẩm là tất cả những gì có thể cung cấp cho sự chiếm hữu, sự sử dụng hoặc sự tiêu thụ của một thị trường: điều đó bao gồm những vật thể, những khoa học, những nhân vật, những nơi chốn, những tổ chức và những ý tưởng” [5, tr.002 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.002 Đặc tính của sản phẩm du lịch: - Tính vô hình: Sản phẩm du lịch về bản chất là một dịch vụ. Khác với sản phẩm vật chất, các dịch vụ không thể nhìn thấy, nếm, ngửi, cảm giác hay nghe thấy trƣớc khi mua. Tuy nhiên họ lại có thể nhìn thấy những yếu tố hữu hình gắn với nó.
Chính những yếu tố đó giúp họ hình dung ra sản phẩm du lịch. Vì vậy, quyết định mua của khách hàng thƣờng dựa vào những yếu tố này rất nhiều. Ngoài ra, tác động kết hợp của các yếu tố này cũng quyết định sự đánh giá của khách hàng về chất lƣợng sản phẩm và sự thích hợp của nó với nhu cầu của họ. Do vậy Marketing rất cần thiết để cung cấp thông tin cho khách hàng về sản phẩm du lịch.
- Tính không chia cắt đƣợc: nghĩa rằng khách hàng là một phần của sản phẩm. Thật vậy không riêng gì ngƣời cung cấp dịch vụ mà cả khách hàng cũng góp phần tạo nên chất lƣợng sản phẩm, sự tác động qua lại giữa ngƣời cung cấp và khách hàng tạo nên sự tiêu thụ dịch vụ. Nhƣ vậy nhờ tính không chia cắt đƣợc đòi hỏi ngƣời quản lý trong du lịch phải đảm bảo sự quản lý chặt chẽ của nhân viên lẫn khách hàng. - Tính không ổn định: dịch vụ rất dễ thay đổi, chất lƣợng sản phẩm tùy thuộc phần lớn vào ngƣời cung cấp và khi nào, ở đâu chúng đƣợc cung cấp.
- Tính không lƣu giữ đƣợc: dịch vụ không thể tồn kho, nghĩa là sản phẩm du lịch không thể để dành cho ngày mai. Bởi vì một phòng của khách sạn, một chỗ ngồi trên máy bay không bán đƣợc thì cũng không thể cất vào kho. Thị trường du lịch Thị trƣờng du lịch là tổng thể các hành vi và quan hệ kinh tế thể hiện ra trong quá trình thực hiện sự trao đổi sản phẩm du lịch vì mục đích thỏa mãn nhu cầu mong muốn của du khách. Để khai thác đƣợc thị trƣờng du lịch phải xuất phát từ thực tế, tiến hành một cách có kế hoạch, có chiến lƣợc.
Trong đó, phân tích thị trƣờng thông qua điều tra và dự đoán cung - cầu là tiền đề quan trọng. - Cung của du lịch: Là khả năng của toàn bộ hệ thống của cải vật chất, dịch vụ mà bộ máy du lịch và các ngành liên quan có thể đƣa ra để phục vụ du khách; bao hàm một chuỗi các nhiệm vụ - trách nhiệm và hoạt động hợp thành các đơn vị 10 (LUAN.002 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.002 chức năng; là hệ thống các hoạt động dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu du khách. Để tăng cung du lịch cần chú trọng đầu tƣ cả về số lƣợng và chất lƣợng sản phẩm du lịch, đòi hỏi ƣu tiên thỏa đáng về thời gian và vốn. Thị trƣờng du lịch theo hƣớng cung chính là ngành du lịch với nhiều thị trƣờng con, nhiều sản phẩm do nhiều loại hình tổ chức thiết kế và cung cấp.
- Cầu của du lịch: Là thành phần quyết định tạo nên thị trƣờng du lịch, một tập hợp những khách du lịch (du khách và khách tham quan). Cầu của du lịch phụ thuộc vào các tầng lớp du khách khác nhau về mức độ thu nhập, phong tục tập quán - tín ngƣỡng, tâm sinh lý, giá cả và nhất là thời vụ (mùa trong năm). Các nhân tố ảnh hƣởng này tạo cơ cấu phức tạp đa dạng nên độ co giản của cầu về du lịch rất lớn. Các đơn vị kinh doanh du lịch cần đặc biệt chú trọng vấn đề dự báo và “đào sâu” công tác tiếp thị, nhất là du khách quốc tế.
Thị trƣờng du lịch theo hƣớng cầu là một thị trƣờng hoàn chỉnh, phản ánh nhu cầu của khách hàng về một loạt những sản phẩm có liên quan đến du lịch. - Mối quan hệ cung - cầu du lịch: Có tính ràng buộc và tác động lẫn nhau, khả năng cung kích thích sự hiếu kỳ - hƣởng thụ tác động lên du khách làm khơi dậy cầu, còn cầu ảnh hƣởng trở lại đến sự phát triển của cung qua việc tăng tiêu thụ. Do đặc thù của thị trƣờng du lịch, cung cầu ở cách xa nhau nên công tác Marketing du lịch là hết sức cần thiết. Động cơ du lịch là nhu cầu sinh học và nhu cầu tình cảm của con ngƣời.
Động lực thúc đẩy cung - cầu du lịch là yếu tố kinh tế, sự mở rộng quan hệ quốc tế, tâm lý du khách, cơ sở vật chất, thông tin quảng cáo, tài nguyên du lịch, thời gian nhàn rỗi của du khách và sự tác động của nhà nƣớc. Trong lĩnh vực Marketing, việc nghiên cứu thị trƣờng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thị trƣờng là đối tƣợng chủ yếu, là nhân tố ảnh hƣởng quyết định đến hiệu quả của các hoạt động Marketing. Môi trường Marketing Để thành công trong kinh doanh, một trong những điều kiện tiên quyết đối với các nhà quản lý là cần hiểu điều kiện và môi trƣờng hoạt động của doanh nghiệp mình.
Môi trƣờng hoạt động của doanh nghiệp có thể chia thành 3 mức độ: Môi 11 (LUAN.002 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.002 trƣờng vĩ mô (hay môi trƣờng tổng quát) , môi trƣờng vi mô (hay môi trƣờng đặc thù) và môi trƣờng bên trong (môi trƣờng nội bộ) 1. Môi trường vĩ mô: - Kinh tế: phản ánh sự phát triển, thu nhập nền kinh tế của một nƣớc và điều kiện kinh tế đƣợc xem là một nhân tố tác động mạnh đến thị trƣờng. Các yếu tố kinh tế chủ yếu ảnh hƣởng đến các doanh nghiệp bao gồm tổng thu nhập quốc dân GDP và thu nhập quốc dân trên đầu ngƣời, lạm phát, mức độ tiêu dùng, lãi suất, thay đổi tỷ giá, chính sách tài chính tiền tệ, mức độ thất nghiệp… - Văn hóa: môi trƣờng văn hóa xã hội ảnh hƣởng đến nhận thức, tính cách và giá trị của các cá nhân trong xã hội và điều này tác động đến hành vi tiêu dùng của cá nhân.