CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Một số khái niệm: 1.1 Khách du lịch quốc tế: Các định nghĩa về du lịch nói chung và du lịch quốc tế riêng đã và đang gặp phải các khó khăn nhất định. Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa của nhiều tác giả khác nhau. Theo định nghĩa của hội nghị ở Roma do Liên Hiệp Quốc tồ chức về các vấn đề của du lịch quốc tế năm 1963: Khách du lịch quốc te là những người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và song ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian 24h hoặc hơn. Định nghía trên mắc phải sai lầm đó là không đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng hay phụ thuộc giữa các ngành với nhau trong du lịch.
Định nghĩa vẫn chưa giới hạn đầy đủ đặc trưng về lĩnh vực của các hiện tượng và các mối quan hệ kinh tế du lịch (các mối quan hệ thuộc loại nào: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa). Ngoài ra, định nghĩa cũng bở sót hoạt động của các công ty giữ nhiệm vụ trung gian nhiệm vụ to chức du lịch và nhiệm vụ sản xuất hàng hóa dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Xuất phát từ những thực tế đó chúng ta có thể nhìn nhận du lịch quốc tế như sau: Du lịch quốc tế là hình thức du lịch mà ở đó diem xuất phát và điếm đến cùa cuộc hành trình nằm ở các quốc gia khác nhau, ớ hình thức này phải vượt qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch. Từ cách nhìn nhận trên chúng ta có the thấy rằng du lịch quốc tế là những hình thức du lịch có dính dáng tới yếu tố nước ngoài, điểm đi và điểm đến của hành trình ở các quốc gia khác nhau, khách du lịch sử dụng ngoại tệ của nước mình đem tới nước du lịch đe chi tiêu cho nhu cầu du lịch của mình (định nghĩa cùa hội nghị ở Roma).
❖ Theo một định nghĩa khác: Khách du lịch chính là chủ thể, người thực hiện hoạt động du lịch. Thuật ngừ “khách du lịch” cũng có nhiều cách hiểu khác nhau trên thế giới. 13 Đe tạo ra một chuẩn mực cho thống kê du lịch thế giới, năm 1963 Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã thống nhất những khái niệm và cách hiếu chính thứcvề “khách du lịch” và “khách du lịch quốc tế”. Theo đó, “khách du lịch là người viếng thăm và lưu lại một hoặc một số nơi ngoài môi trường cư trú thường xuyên của mình, với thời gian không quả một năm liên tục, nhằm mục đích giải trí, kinhdoanh và các mục đích khác không liên quan đen mục đích hành nghề đe nhận thu nhập ở nơi viếng thăm ”(UNWTO, 1963), trong khi đó định nghĩa về khách du lịch quốc tê của UNWTO là “người viếng thăm và lưu lại một hoặc một số nước khácngoài nước cư trú của mình, với thời gian ít nhất là 24 giờ, ngoài mục đích hành nghề để nhận thu nhập'’'’ (UNWTO,1963).
Như vậy, điểm khác biệt giữa khách du lịch và khách du lịch quốc tế là khách du lịch quốc tế có sự viếng thăm hoặc lưu lại tại một quốc gia khác quốc gia mình thường xuyên cư trú.Các định nghĩa này sau đó đoỊỢC ủy ban Thống kê của Liên Hiệp Quốc công nhận vào năm 1968. Đồng thời vào năm 1993, Uy ban này cũng công nhận việc phân loại khách du lịch khách du lịch quốc te den (Inbound tourist) và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist). Trong đó, khách du lịch quốc tế đến gom những người từ nước ngoài đen du lịch ở một quốc gia khác quốc gia mình đang cư trú thường xuyên. Theo pháp luật Việt Nam, “khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề đe nhận thu nhập ở nơi đến” (điếm 2, điều 4, Luật Du lịch Việt Nam năm 2005).
Điều 34 Luật này cũng quy định khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế trong đó “ Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ởnước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch” (điểm 3, điều 34, Luật Du lịch Việt Nam năm 2005). 14 Nguồn: Tổng hợp từ số liệu Tổng cục Thống kê Theo Tổng cục Thống kê, 10 tháng đầu năm 2019, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đạt 14,5 triệu lượt, tăng 13% so với cùng kỳ 2018. Đây là mức tăng trưởng ấn tượng, cao hon đáng ke mức bình quân chung của thế giới cũng như khu vực theo đánh giá của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO). Nguồn: Tông cục thông kê Ket quả tăng trưởng trong 10 tháng đầu năm 2019 có đóng góp quan trọng từ kết quả của 4 tháng qua (từ tháng 7 đến thảng 10), thời gian này khách tăng trưởng gần 22% so với cùng kỳ 4 tháng năm 2018.
Nguồn: Tông cục thông kê Đặc biệt, tháng 10/2019 ngành Du lịch Việt Nam đã đón lượng khách cao kỷ lục từ trước đến nay, đạt 1,62 triệu lượt, tăng mạnh 34,3% so với cùng kỳ. Đây cũng là tháng có tốc độ tăng trưởng cao nhất đến nay trong năm 2019. Nguồn: Tông cục thông kê 1.2 Phân loại khách du lịch quốc tế: 15 Khách du lịch quốc tế chia làm 2 loại: chủ động và bị động: • Du lịch quốc tế chủ động là hình thức du lịch của khách ngoại quốc đến một đất nước nào đó, ví dụ đến Việt Nam và tiêu tiền kiếm được từ đất nước của họ. • Du lịch quốc tế bị động là hình thức du lịch có trong trường hợp các công dân Việt Nam đi ra ngoài biên giới nước ta và trong chuyến bay ấy họ tiêu tiền kiếm được ở Việt Nam.
Xét trên phương diện kinh tế, du lịch quốc tế chủ động gần giống hoạt động xuất khấu vì nó làm tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nước du lịch. Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đối ra bản tệ đe chi tiêu số tiền ở nơi du lịch đấy mạnh cán cân thanh toán của Việt Nam. Đối với hình thức du lịch quốc tế bị động, loại du lịch này tương tự như nhập khẩu hàng hóa vì nó liên quan tới chi ngoại tệ. Xét trên phương diện văn hóa, xã hội: khách du lịch quốc tế có cơ hội tìm hiếu các phong tục tập quán, hệ thống văn hóa, pháp luật của nước sở tại, đồng thời chịu sự chi phối của hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa cũng như pháp luật của nước đó.
Điều này có nghĩa là khi đó du lịch tại một quốc gia khác, khách du lịch phải tuân theo qui định về pháp luật, văn hóa, xã hội của quốc gia đó. Nguyên tắc trao đoi văn hóa và kinh tế trên cơ sở này sẽ có ảnh hưởng tích cực tới sự phát triến của du lịch quốc tế chù động cũng như du lịch quốc tế bị động, tuy nhiên mỗi đất nước tùy thuộc vào khả năng của mình mà có những định hướng phát triển cho phù hợp.3 Nhu cầu: Nhu cầu là cái tất cả yếu tự nhiên, là thuộc tính tâm lý con người, là nguồn gốc hành động của mồi con người. Vì vậy các doanh nghiệp du lich, các khách sạn phải biết nắm rõ nhu cầu của khách đe có những biện pháp nhằm thỏa mãn tối đa những nhu cầu chính đáng của khách sạn và tạo ra sự hài lòng cho khách. Ngày nay , cuộc sống càng hiện đại thì nhu cầu của con người không dừng lại ở các nhu cầu thiết yếu , mà nhu cầu của con người có những đòi hỏi cao hơn.
Nhu cầu đi du lịch dần dần đang trở thành một nhu cầu mang tính xã hội. Du lịch không còn là đặc quyền, đặc lợi của tầng lớp quý tộc, giàu có. Nhu cầu của khách du lịch quốc tế cũng không 16 khác, nằm ngoài nhu cầu của khách du lịch nói chung. Nhu cầu du lịch là loại nhu cầu đặc biệt và tong hợp của con người, đòi hỏi người đi du lịch phải có khả năng chi trả cao hơn bình thường, có thời gian rồi và trình độ dân trí, nhu cầu du lịch có thiên hướng đến sự hưởng thụ.
Nhu cầu này được hình thành và phát trien trên nền tảng của nhu cầu sinh lý (sự đi lại) và nhu cầu tinh thần (sự nghỉ ngơi, tự khang định, nhận thức, giao tiếp) Nhu cầu du lịch phát sinh là kết quả tác động của lực lượng sản xuất và trình độ sản xuất xã hội. Trình độ sản xuất xã hội ngày càng cao, các mối quan hệ xã hội ngày càng hoàn thiện thì nhu cầu đi du lịch của con người ngày càng phát triến. Nhu cầu đi du lịch của con người một mặt phụ thuộc vào các điều kiện: thiên nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội, trong xã hội cụ thể, nhóm xã hội nào đó mà người ta sống lao động và giao tiếp. Mặt khác, những điều kiện này luôn luôn bị" khúc xạ " thông qua kinh nghiệm , đòi hỏi bên trong của mồi con người cụ thể.
Nhu cầu của con người ngày càng phát triển mạnh mẽ do các yếu tố như: khả năng thanh toán cao, phí du lịch giản dần, mức độ giáo dục cao hơn, cơ cấu nghề nghiệp đa dạng, đô thị hóa, thời gian nhàn rồi nhiều, các chương trình bảo hiểm, phúc lợi lao động do chính phủ tài trợ,.4 Phân loại nhu cầu khách du lịch quốc tế: Nhu cầu của khách du lịch là rất đa dạng và phong phú, có nhiều cách đe phân loại nhu cầu du lịch. Ta có the phân loại nhu cầu du lịch thành 4 loại: ■ Nhu câu vận chuyên. ■ Nhu cầu lưu trú và ăn uống. ■ Nhu cầu cảm thụ cái đẹp và giải trí.
■ Các nhu cầu khác. Hoặc có cách khác để phân chia nhu cầu của khách du lịch: - Nhu cầu thiết yếu: gồm nhu cầu vận chuyển, nhu cầu lưu trú và ăn uống. Mặc dù đây là loại nhu cầu không có tính quyết định đến mục đích của chuyến đi nhưng đây là nhu cầu căn bản không the thiếu được. - Nhu cầu đặc trưng (Nhu cầu hưởng thụ cái đẹp và giải trí): là động cơ tạo nên nhu cầu đi du lịch.
Gồm nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, thăm các công trình kiến trúc, di tích 17 lịch sử văn hóa, chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên. Nó được đánh giá là nhu cầu số một. - Nhu cầu bố sung (Nhu cầu khác): Là nhu cầu thứ yếu nảy sinh trong chuyến đi như: giặt là, cắt tóc, masage, thu hút đổi ngoại tệ. thỏa mản nó đồng nghĩa với việc thỏa mãn ở mức độ cao hon.