CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ LƯU TRÚ 1.1 Tổng quan về các loại hình cơ sở lưu trú 1.1 Khách sạn Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở kinh doanh buồng, giường và các dịch vụ khác đủ tiêu chuẩn để phục vụ khách (Luật du lịch số 09/2017/QH14) bao gồm các loại hình lưu trú sau: Thuật ngữ “Hotel” - Khách sạn có nguồn gốc từ tiếng Pháp. Vào thời trung cổ thì thuật ngữ này dùng để chỉ những ngôi nhà sang trọng của các lãnh chúa. Vào cuối thế kỷ XVII thì từ khách sạn theo nghĩa hiện đại đã được sử dụng ở Pháp và đến cuối thế kỷ XIX thì nó được sử dụng phổ biến ở các nước khác. Ở thời kỳ ấy thì sự khác biệt giữa khách sạn và nhà trọ là sự xuất hiện của các buồng ngủ riêng với những tiện nghi bên trong phòng.
Từ giữa thế kỷ XIX đến thế kỷ XX thì sự phát triển rất nhanh của các khách sạn đã làm thay đổi cả về số lượng và chất lượng. Tại các thành phố lớn của châu Âu, các khách sạn sang trọng được xây dựng để phục vụ tầng lớp thượng lưu trong xã hội nhưng bên cạnh những khách sạn lớn thì một hệ thống các khách sạn nhỏ có trang bị khiêm tốn cũng đã được hình thành. Cho nên dã có sự khác biệt trong phong cách phục vụ và cấp độ cung cấp các dịch vụ bên trong những khách sạn Chính điều đó đã dẫn đến có nhiều khái niệm về khách sạn : Theo định nghĩa của nước Cộng hòa Pháp về khách sạn: “Khách sạn là một cơ sở lưu trú được xếp hạng, có các buồng và căn hộ với các trang thiết bị tiện nghi nhằm thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi của khách trong một khoảng thời gian dài ( có thể là hang tuần hoặc hàng tháng nhưng không lấy đó làm nơi cư trú thường xuyên ), có thể là nhà hàng. Khách sạn có thể hoạt động quanh năm hoặc theo mùa ”.
Theo định nghĩa của nhà nghiên cứu về du lịch và khách sạn Morcel Gotie: “Khách sạn là nơi lưu trú tạm thời của du khách. Cùng với các buồng ngủ còn có các nhà hàng với nhiều chủng loại khác nhau”. Theo định nghĩa của Tổng cục Du lịch Việt Nam thì : “Khách sạn (hotel) công trình kiến trúc dược xây dựng đôc lập, có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch ”.2 Motel 4 Khóa luận tốt nghiệp SV: Nguyễn Ngọc Thủy Tiên Thuật ngữ “Motel” xuất hiện ở Mỹ từ những năm 50 của thế kỷ XX và trong hơn nửa thế kỷ tồn tại và phát triển thì Motel đã lớn dần cả về số lượng và chất lượng là một dạng cơ sở lưu trú có quy mô nhỏ ít tiện nghi với giá cả bình dân nằm ven dọc các đường quốc lộ hoặc ven ngoại ô thành phố. Là chỗ nghỉ chân tạm thời cho khách du lịch qua đêm.
Motel được ghép nối bởi 2 từ motor và hotel. Về cách thức thiết kế : Motel là một quần thể gồm các toà nhà được xây dựng không quá hai tầng chỉ có trung bình khoảng 10 -20 phòng nghỉ, được quy hoạch và được chia thành các khu vực sử dụng riêng biệt: khu lưu trú, khu bãi đỗ, khu cung cấp dịch vụ bán xăng, sửa chữa, bảo dưỡng và cho thuê xe. Về đối tượng khách của Motel là những người co thu nhập trung bình, đi lại sử dụng phương tiện vận chuyển riêng là môtô và xe con trên các tuyến quốc lộ. Sản phẩm cung cấp cho khách của Motel chủ yếu là dịch vụ buồng ngủ (với hình thức tự phục vụ), các dịch vụ truyền thống như bán tiếp nhiên liệu xăng dầu, sửa chữa, bảo dưỡng.3 Homestay Homestay là loại hình du lịch mà khách du lịch sẽ nghỉ, ngủ tại nhà người dân địa phương, nơi mà họ đặt chân đến nhằm giúp du khách khám phá, trải nghiệm và tìm hiểu phong tục tập quán, đời sống văn hóa của từng vùng miền tại địa phương đó.
Hiểu một cách đơn giản và bao quát nhất, Homestay là loại hình du lịch dựa vào cộng đồng, tức lưu trú tại nhà dân, địa phương nơi khách đến, giúp nơi đó quảng bá văn hóa, con người và cảnh đẹp một cách chân thật nhất. Loại hình du lịch Homestay được đánh giá là đặc biệt phù hợp với quốc gia đa văn hóa như Việt Nam.4 Làng du lịch Làng du lịch ra đời ở Pháp và đã xuất hiện vào đầu năm 1947, chủ yếu ở Địa Trung Hải và ngày này thì làng du lịch được xây dựng ở các điểm du lịch nghỉ dưỡng, nơi có tài nguyên du lịch thiên nhiên. Làng du lịch là một khu độc lập bao gồm các biệt thự hay Bungalow một tầng có kiến trúc gọn nhẹ và được xây dựng bởi những vật liệu nhẹ. Trong làng du lịch cũng được quy hoạch thành các khu riêng biệt như khu lưu trú, ăn uống, thương mại, thể thao v.
5 Khóa luận tốt nghiệp SV: Nguyễn Ngọc Thủy Tiên Đối tượng khách của làng du lịch chủ yếu là những khách có khả năng thanh toán cao, đi theo đoàn hoặc cá nhân thông qua tổ chức theo giá trọn gói và có thời gian lưu trú dài ngày, khách đi theo gia đình sử dụng dịch vụ này cũng đang có xu hướng tăng lên .5 Resort Ban đầu, Resort là từ dùng để chỉ nơi chữa và dưỡng bệnh ở các quốc gia phát triển. Dần về sau đã trở thành từ quen thuộc để chỉ nơi cung cấp dịch vụ nghỉ dưỡng cao cấp trong ngành du lịch. Resort có nghĩa là khu nghỉ dưỡng, loại hình khách sạn được xây dựng độc lập thành khối hay quần thể bao gồm các khu căn hộ, biệt thự… ở những khu vực có cảnh quan, không gian rộng rãi, đẹp, yên bình, xa khu đô thị, dân cư để phục cụ nhu cầu nghỉ dưỡng, tham quan du lịch của con người. ❖ Các loại hình Resort ➢ Khu nghỉ dưỡng phức hợp ➢ Khu nghỉ dưỡng khép kín (Destination resort) ➢ Khu nghỉ dưỡng khép kín được phân chia làm hai khu: Khu du lịch nghỉ mát: Những resort độc đáo lớn hay nhỏ sẽ được phân định theo những điểm hấp dẫn và các tiện ích chính đối với du khách.
Khu du lịch chuyên ngành: Thường thêm vào các hình thức vui chơi giải trí sống động để thu hút du khách. Sòng bạc (Casino): Các sòng bạc mang rất nhiều tiện ích. Ở đó có thể là các nhà hàng đặc sản, spa chăm sóc sức khỏe, các tiện ích, dịch vụ hiện đại, sân golf 18 lỗ hoặc 2 sân, phòng chơi game truyền thống, nhà hàng… 1.5 Villa Villa hay được gọi là biệt thự. Đây là loại hình nhà ở được xây dựng hoàn thiện và biệt lập trên một khoảng đất có diện tích lớn, có kiến trúc và không gian rộng, được thiết kế sang trọng và hoàn hảo nhưng vẫn đảm bảo hài hòa và gần gũi với thiên nhiên, xung quanh được bao bọc bởi lối ra và sân vườn.
Một căn Villa phải đủ các tiêu chuẩn gồm: phòng khách, nhiều phòng ngủ, phòng ăn, bếp, không gian sinh hoạt chung, sân vườn và hồ bơi riêng… 1.6 Lều trại (Camping) : 6 Khóa luận tốt nghiệp SV: Nguyễn Ngọc Thủy Tiên Lều trại là một loại hình cơ sở lưu trú nằm ở những nơi giàu tài nguyên thiên nhiên, đặc trưng của lều trại là được tạo bởi những vật liệu kém bền chắc, có tính di động cao và thường được quy hoạch thành các khu riêng biệt. Trong lều trại, khách du lịch được cung cấp các dịch vụ như nơi ngủ, ăn uống, khu thể thao, vui chơi giải trí và một số dịch vụ bổ sung khác. Loại hình lưu trú này được chia thành các khu vực sau : Khu đón tiếp khách: chỉ dẫn và cung cấp thông tin cho khách đến nghỉ. Khu cắm trại: dành cho xây dựng các lều trại đẻ khách thuê, gần các khu bãi đỗ cho xe và các công trình công cộng như nhà tắm, nhà vệ sinh.
Khu thương mại: bao gồm nhà hàng, các quầy bán hàng và đồ lưu niệm, cho thuê các trang thiết bị qua đêm như lều bạt, chăn màn. Khu thể thao và vui chơi ngoài trời: có diện tích rộng và cách biệt. Khu nấu ăn do khách tự phục vụ. Đối tượng khách của loại hình lưu trú lều trại là những khách ở độ tuổi thanh niên, học sinh, sinh viên có khả năng thanh toán không cao, thích đi du lịch theo đoàn, theo nhóm và đi du lịch theo mùa .7 Bungalow : Đây là một dạng nhà trọ bằng gỗ hay các vật liệu nhẹ được lắp ghép với nhau, thường tập trung ở các vùng ven biển, vùng núi và các điểm nghỉ mát.
Bungalow có thể được phân bố đơn lẻ, thành các cụm hay tập trung theo một quy hoạch cụ thể. Nội thất của Bungalow không sang trong nhưng khá đầy đủ cho sinh hoạt gia đình hay tập thể như bàn ghế, giường ngủ, tivi v. Loại hình Bungalow phục vụ đói tượng khách chủ yếu là các gia đình .2 Hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú tỉnh 1.1 Khái niệm kinh doanh dịch vụ lưu trú Ban đầu kinh doanh lưu trú chỉ là hoạt động kinh doanh dịch vụ nhằm đảm bảo chỗ ngủ qua đêm cho khách có trả tiền. Sau đó cùng với những đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao hơn của khách du lịch và mong muốn của chủ doanh nghiệp nhằm đáp ứng toàn bộ nhu cầu của khách cho nên dần dần các CSLT đã tổ chức thêm hoạt động kinh doanh ăn uống và nhiều dịch vụ khác để phục vụ nhu cầu của khách.
Khái niệm kinh doanh lưu trú được hiểu theo hai nghĩa rộng và nghĩa hẹp : 7 Khóa luận tốt nghiệp SV: Nguyễn Ngọc Thủy Tiên Theo nghĩa hẹp thì kinh doanh lưu trú chỉ đảm bảo việc phục vụ nhu cầu ngủ, nghỉ cho khách. Theo nghĩa rộng, kinh doanh lưu trú là hoạt động cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi và ăn uống, vui chơi, giải trí của khách. Nền kinh tế hiện nay ngày càng phát triển, đời sống vật chất của con người cũng được cải thiện tốt hơn và có điều kiện quan tâm đến đời sống tinh thần của chính mình, số người đi du lịch càng tăng nhanh. Du lịch phát triển cũng là lúc có sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp kinh doanh lưu trú nhằm thu hút ngày càng nhiều khách trong đó có những khách có khả năng tài chính cao đã làm tăng thêm tính đa dạng trong hoạt động kinh doanh lưu trú.