CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm và vai trò Khái niệm “Quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên.”(Trần Kim Dung, 2010) Thuật ngữ nguồn nhân lực đã xuất hiện vào những năm 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi về phương thức quản lý, sử dụng con người trong sản xuất. Nếu như trước đây phương thức quản trị nhân viên với các đặc trưng coi nhân viên là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay với phương thức mới, quản lý nguồn nhân lực với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phối hợp, phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua quá trình tích lũy kinh nghiệm trong quá trình lao động phát triển.
Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ "nguồn nhân lực" là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thành công của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn lực con người. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tất cả các doanh nghiệp điều bị đặt vào một môi trường kinh doanh đầy cạnh tranh và thách thức một cách bình đẳng với nhau. Khả năng tồn tại và phát triển duy nhất của mình là các doanh nghiệp phải đầu tư cho con người, quản trị nguồn nhân lực một cách hiệu quả, khoa học và hợp lý nhất. Quản trị nguồn nhân lực thành công là nền tảng vững chắc cho thành công của các hoạt động khác của doanh nghiệp.
Sự phát triển của nguồn nhân lực sẽ tạo ra các năng lực cốt lõi và chính điều này lại cung cấp các cơ sở đầu vào để cho các nhà quản trị chiến lược đưa ra các 7 chiến lược mới theo đuổi các giá trị mục tiêu có tính thánh thức cao hơn tạo thành vòng tròn ngày càng phát triển lớn mạnh của doanh nghiệp. Vai trò của quản trị nguồn nhân lực Quản trị nguồn nhân lực nghiên cứu các vấn đề về quản trị con người trong các tổ chức ở tầm vi mô và có hai mục tiêu cơ bản: - Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức. - Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên phát huy tối đa các năng lực cá nhân, được kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thanh, tận tâm với doanh nghiệp. (Trần Kim Dung, 2010) Trong những năm gần đây khi mà trình độ của người lao động ngày càng tăng, thiết bị kỹ thuật ngày càng hiện đại, cách thức làm việc ngày càng đa dạng, đòi hỏi tư duy nhiều bên cạnh việc cạnh tranh gay gắt trên thị trường thì đặt ra không ít khó khăn cho nhà quản trị doanh nghiệp phải thích nghi với các khả năng quản lý chuyên nghiệp hơn, khoa học hơn nữa.
Mục tiêu của công tác quản trị nguồn nhân lực Mục tiêu xã hội: doanh nghiệp hoạt động vì lợi ích xã hội, phục vụ cộng đồng, giải quyết việc làm cho người lao động, đóng góp cho sự phát triển của xã hội, của con người chứ không phải chỉ lo cho lợi ích của doanh nghiệp. Mục tiêu phát triển tổ chức, doanh nghiệp: Quản trị nguồn nhân lực để doanh nghiệp đạt được các mục tiêu, chiến lược của mình qua việc khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực. Mục tiêu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức, doanh nghiệp: mỗi bộ phận, phòng ban đều có chức năng nhiệm vụ riêng, do đó mỗi phòng ban phải có sự đóng góp phục vụ cho mục tiêu chung của doanh nghiệp. Mục tiêu cá nhân: nhà quản trị tạo điều kiện cho người lao động đạt được được các mục tiêu cá nhân của họ, vừa có thể kích thích năng suất lao động, vừa có thể động viên, duy trì được sự gắn bó của người lao động với doanh nghiệp.
Các mô hình quản trị nguồn nhân lực Mô hình quản trị NNL của Việt Nam do tác giả Trần Kim Dung phát triển trên cơ sở điều chỉnh mô hình quản trị NNL của Đại học Michigan vào điều kiện của Việt Nam [2,16]. Mô hình quản trị NNL của Việt Nam được phát triển dựa trên các ý tưởng: - Quản trị NNL sẽ được thực hiện như một chiến lược chức năng. - Ba nhóm chức năng: thu hút, đào tạo – phát triển và duy trì NNL có tầm quan trọng như nhau, có mối quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau, phục vụ cho mục tiêu của quản trị NNL. - Yếu tố chỉ đạo trong mô hình là sứ mạng mục tiêu của DN.
Từ sứ mạng, mục tiêu của DN sẽ có mục tiêu của quản trị NNL. Từ mục tiêu của quản trị NNL sẽ có các hoạt động chức năng tương ứng. - Hệ thống quản trị NNL có mối quan hệ chặt chẽ, đồng bộ với văn hóa và cơ chế tổ chức, chịu sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố môi trường vĩ mô như hệ thống chính trị, luật pháp; mức độ phát triển kinh tế - xã hội; trình độ công nghệ - kỹ thuật, điều kiện tự nhiên. Đặc biệt, từ cơ chế kinh doanh và văn hóa dân tộc nói chung, mỗi DN sẽ có cơ chế tổ chức, văn hóa tổ chức riêng, tác động lẫn nhau và phối hợp cùng với quản trị NNL để tạo nên hình ảnh, phong cách riêng cho DN.
Mô hình có ba nhóm chức năng thành phần: thu hút, đào tạo – phát triển và duy trì NNL. Từ mục tiêu của quản trị NNL sẽ có các chính sách, thủ tục, hoạt động tương ứng về tuyển dụng, đào tạo – phát triển và duy trì NNL. Mô hình nhấn mạnh rằng ba nhóm hoạt động chức năng có mối quan hệ qua lại, không phải là quan hệ chỉ đạo. Mỗi một trong số ba nhóm chức năng của NNL đều có quan hệ chặt chẽ và trực tiếp ảnh hưởng đến hai chức năng còn lại, tạo thành thế chân kiềng khép kín, phục vụ cho mục tiêu của quản trị NNL.
Phác thảo mô hình quản trị NNL của Việt Nam gồm 2 hình: - Mối quan hệ của quản trị NNL với môi trường được thể hiện trong Hình 1. 9 - Mối quan hệ giữa các yếu tố thành phần chức năng trong mô hình quản trị NNL của Việt Nam được trình bày trong Hình 1.1b 10 Với ba nhóm chức năng thành phần trong mô hình quản trị NNL sẽ có các hoạt động cụ thể như sau: - Nhóm chức năng thu hút NNL với 3 hoạt động là hoạch định NNL, phân tích công việc và tuyển dụng. - Nhóm chức năng đào tạo và phát triển NNL với hoạt động đào tạo và phát triển NNL. - Nhóm chức năng duy trì và phát triển NNL với 2 hoạt động là đánh giá kết quả thực hiện công việc của nhân viên; chế độ lương, thưởng và các chính sách đãi ngộ.
CHỨC NĂNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Thu hút nguồn nhân lực Thu hút nguồn nhân lực là một nội dung quan trọng trong công tác quản trị nguồn nhân lực, nó bao gồm một số nội dung, kỹ năng và chiến lược nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tìm kiếm hay đảm bảo đáp ứng đủ nguồn nhân lực cả về chất và lượng trong mọi tình huống mọi giai đoạn hoạt động của doanh nghiệp. Khả năng thu hút nguồn nhân lực của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: - Khả năng cung cấp của thị trường lao động, địa bàn hoạt động của doanh nghiệp có đông dân cư không, tỷ lệ dân số ở độ tuổi lao động như thế nào, mức độ chênh lệch cung cầu lao động có thể tác động đến sự dư thừa hay thiếu hụt nhân lực. - Mức độ phát triển kinh tế trong vùng: khi kinh tế vùng phát triển thì song hành với nó nhu cầu sử dụng các dịch vụ viễn thông gia tăng, trình độ người lao động cũng gia tăng, tất cả điều là điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động.
- Doanh nghiệp phải tạo ra thương hiệu tốt: đó là niềm tự hào, hãnh diện của nhân viên khi được làm việc cho doanh nghiệp, mà các doanh nghiệp khác không mang lại được. - Chính sách tuyển dụng của doanh nghiệp có thỏa mãn nhu cầu của người lao động, có tạo động lực để người lao động tham gia vào doanh nghiệp. Hoạch định nguồn nhân lực Hoạch định nguồn nhân lực là quá trình xem xét có hệ thống các nhu cầu về nguồn nhân lực trong doanh nghiệp trong ngắn hạn hay dài hạn, kể cả phòng ngừa rủi ro, để từ đó vạch ra kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực hợp lý, hiệu quả cho doanh nghiệp. Hoạch định nguồn nhân lực giúp doanh nghiệp chủ động nhìn nhận được các biến động, thực trạng về nguồn nhân sự để có những điều chỉnh phù hợp.
Hoạch định nguồn nhân lực được thực hiện theo các bước như sau: - Dự báo nguồn nhân lực: Xác định rõ các mục tiêu, chiến lược doanh nghiệp cần đạt được, kế hoạch hoạt động và phạm vi sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Hiện nay có hai chiến lược kinh doanh phổ biến mà các doanh nghiệp theo đuổi là: Một là chiến lược dẫn đạo chi phí: doanh nghiệp giành lợi thế cạnh tranh bằng việc cung cấp các dịch vụ với chi phí thấp, cạnh tranh nhất. Hai là chiến lược cạnh tranh bằng sự khác biệt: doanh nghiệp phải nghiên cứu, phát triển các dịch vụ khác biệt, mang lại giá trị tăng thêm cho người tiêu dùng. Ở chiến lược này doanh nghiệp phải hướng ra ngoài, cần có các nhân tố mới, các tài năng thực sự để tạo ra sự khác biệt, do đó doanh nghiệp phải chú trọng đến chính sách thu hút nhân tài, đào tạo phát triển hay nắm giữ các tài năng của doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ xác định cần bao nhiêu người, trình độ chuyên môn, các kỹ năng, phẩm chất của nhân viên cần tuyển. - Phân tích thực trạng nguồn nhân lực: Đánh giá các ưu, nhược điểm của nguồn nhân lực hiện có của doanh nghiệp. Cần có các đánh giá cụ thể về cơ cấu, trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm, tinh thần làm việc, trách nhiệm của mỗi nhân viên.