Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý thu tiền thuê đất trên địa bàn cấp tỉnh. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu tiền thu đất trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2014-2016. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu tiền thu đất trên địa bàn tỉnh Thái Bình. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU TIỀN THUÊ ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1.
Tổng quan về tiền thuê đất 1. Thuê đất và cho thuê đất 1. Thuê đất, cho thuê đất và vai trò của thuê đất, cho thuê đất “Thuê đất và cho thuê đất là sự thoả thuận giữa bên cho thuê và bên thuê về việc bên cho thuê chuyển quyền sử dụng đất cho bên thuê trong một khoảng thời gian nhất định để đƣợc nhận tiền cho thuê một lần hoặc nhiều lần. Sở dĩ có giao dịch này là do ngƣời có quyền sở hữu hoặc sử dụng đất, nhƣng lại không có nhu cầu sử dụng hoặc không có khả năng sử dụng, trong khi ngƣời có nhu cầu sử dụng đất để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh (SXKD) hoặc sinh hoạt lại không có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đất.” Hoạt động này sẽ đem lại lợi cho cả hai bên: Ngƣời cho thuê sẽ đƣợc tiền cho thuê do ngƣời thuê đất (NTĐ) trả, đó là do đặc điểm của đất là có khả năng sinh lợi, gắn liền với địa tô đất đai.
Ngƣời thuê sẽ có quyền sử dụng đất đai trong thời hạn thuê. Trƣờng hợp sử dụng đất cho SXKD, kết quả thu đƣợc từ sử dụng đất, sau khi chi trả tiền thuê đất cho ngƣời cho thuê, NTĐ vẫn còn thu đƣợc những lợi ích từ quá trình đầu tƣ trên đất thuê. Trƣờng hợp sử dụng đất cho sinh hoạt, thì số tiền phải chi trả đƣơng nhiên là những lợi ích mà NTĐ đã nhận đƣợc trong cuộc sống sinh hoạt của mình. NN cho thuê đất “Điều 4 Luật Đất đai 2013 của nƣớc ta đã khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do NN đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
NN trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật. Theo đó, NN là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai, vì thế, tổ chức, cá nhân muốn có đất để sử dụng cho các mục đích của mình thì phải thuê đất của NN. Nhƣ 7 vậy, NN cho thuê đất chính là việc NN trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tƣợng có nhu cầu sử dụng đất. NN cho thuê đất, gồm đất trên bề mặt và phần ngầm của công trình xây dựng trên mặt đất, NN cho thuê đất để xây dựng công trình trong lòng đất có mục đích kinh doanh mà công trình này không phải là phần ngầm của công trình xây dựng trên mặt đất.” NN quy định tất cả các chính sách, trình tự, thủ tục cho thuê đất, từ xác định đối tƣợng đƣợc thuê đất, cơ quan xử lý giải quyết việc cho thuê đất, hồ sơ xin thuê đất, căn cứ xác định đơn giá thuê đất, miễn giảm tiền thuê đất, quản lý thu, nộp tiền thuê đất… Tất cả những quy định này đều đƣợc thể hiện trong Luật Đất đai 2013, trong Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014, Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, trong Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014, Quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nƣớc… 1.
Tổng quan về tiền thuê đất 1. Khái niệm và đặc điểm của tiền thuê đất Khái niệm về tiền thuê đất: “Theo Luật Đất đai 2013, TTĐ đƣợc hiểu là khoản tiền mà NTĐ phải trả cho ngƣời cho thuê đất về việc NTĐ đƣợc sử dụng đất của ngƣời cho thuê trong một thời gian nhất định. Cụ thể, khi ngƣời cho thuê đất là NN thì TTĐ chính là khoản tiền mà NTĐ phải nộp vào ngân sách nhà nƣớc (NSNN) khi NN trao quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê đất.” Đặc điểm của TTĐ: “- Tiền thuê đất đƣợc xác định với mức thuê khác nhau đối với các loại đất khác nhau và phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên và bản chất sử dụng đất đai; - Tiền thuê đất phụ thuộc vào giá đất thuê biến động trên thị trƣờng dịch vụ đất đai; - Xét về mặt dài hạn, TTĐ thƣờng có xu hƣớng tăng lên theo thời gian do quan hệ cung - cầu về thuê đất; - Thời hạn trả TTĐ tuỳ thuộc vào thoả thuận giữa ngƣời cho thuê và ngƣời 8 thuê và quy định pháp luật liên quan đến nội dung quản lý NN về hoạt động cho thuê đất đai. Khi NN cho thuê đất thì TTĐ giữa NN với NTĐ có một số điểm khác biệt so với đặc điểm TTĐ nói chung đó là: (i) TTĐ do NN quy định, việc xác định TTĐ do bộ phận chức năng thuộc cơ quan quản NN tiến hành; (ii) Quá trình thực hiện việc thanh toán TTĐ đƣợc thực hiện qua 02 hình thức là, trả tiền thuê đất hàng năm và trả một lần; (iii) Trong quá trình thực hiện hợp đồng thuê đất đai giữa ngƣời sử dụng đất và NN, NN có thể điều chỉnh đơn giá TTĐ theo thời gian và việc điều chỉnh căn cứ vào giá thuê trên thị trƣờng của từng loại đất thuê.
Bản chất của tiền thuê đất và sự hình thành tiền thuê đất Về bản chất, TTĐ là phản ánh lợi ích kinh tế của đất thuê trong quan hệ giao dịch liên quan đến hoạt động thuê và cho thuê đất đai. Về mặt nội dung, bản chất TTĐ đƣợc phản ánh qua một số điểm sau đây: - Đất đai có khả năng sinh lợi: Khi đầu tƣ vào đất, đất tạo ra giá trị cao hơn bản thân giá trị của các khoản đầu tƣ vào đất. Nhƣ vậy TTĐ chính là khoản tiền đƣợc trích từ khả năng sinh lợi của đất đai. - Khả năng sinh lợi của đất đai thuộc quyền của ngƣời cho thuê đất vì theo pháp luật, họ có quyền sở hữu hay sử dụng đối với đất đai đó.
Quyền đó luôn chứa đựng những lợi ích của ngƣời chủ đất. - Khi tham gia vào quá trình kinh doanh, đất đai có vai trò với tƣ cách là một yếu tố đầu vào của quá trình kinh doanh của NTĐ. Nhờ sử dụng đất mà kết quả kinh doanh của NTĐ tăng lên, do vậy NTĐ phải trả lại giá trị của yếu tố đầu vào của quá trình kinh doanh cho ngƣời cho thuê đất. - TTĐ chịu ảnh hƣởng của những biến động của thị trƣờng cho thuê đất, nhất là quan hệ cung cầu.
Nếu ngƣời cho thuê đất là NN thì TTĐ chịu ảnh hƣởng của yếu tố pháp luật và chính sách trong từng thời kỳ. Một số quy định pháp luật về TTĐ “Luật đất đai năm 2013 quy định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do NN đại 9 diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. NN trao quyền sử dụng đất cho ngƣời sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.NN có quyền quyết định: quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất, mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, trƣng dụng đất, giá đất, trao quyền sử dụng đất cho ngƣời sử dụng đất, chính sách tài chính về đất đai và có quyền quy định về hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất… Theo đó, TTĐlà một trong những khoản thu vào Ngân sách NN đối với ngƣời sử dụng đất khi đƣợc NN cho thuê đất. NN cho thuê đất là việc NN trao quyền sử dụng đất cho đối tƣợng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê đất.
TTĐ là một khoản mà ngƣời sử dụng đất phải trả theo quy định của pháp luật khi đƣợc NN cho thuê đất trong một thời hạn nhất định.” TTĐ là một khoản thu thuộc Ngân sách NN nên trƣớc tiên nó mang đầy đủ bản chất của khoản thu thuộc ngân sách NN, bên cạnh đó nó có những đặc điểm sau: (1) TTĐ là một khoản thu thuộc các khoản thu tài chính từ đất đai phải nộp vào ngân sách NN mang tính bắt buộc. Quyền lợi và trách nhiệm của NTĐ đƣợc thực hiện song hành; (2) TTĐ là một khoản thu đánh trực tiếp vào đối tƣợng thuê đất. Đối tƣợng thuê đất phải nộp vào ngân sách NN theo hai hình thức là: nộp TTĐ hàng năm hoặc nộp tiền một lần cho cả thời gian thuê đất (tùy thuộc vào thẩm quyền của cơ quan NN quy định); (3) TTĐ trong từng trƣờng hợp thuê cụ thể có thể đƣợc xem xét miễn, giảm theo quy định của pháp luật; (4) Quá trình xác định TTĐ đƣợc tuân thủ theo quy trình và quy định chặt chẽ theo quy định của pháp luật đất đai nói chung và tài chính đất đai nói riêng. Công tác Quản lý thu TTÐ 1.
Khái niệm quản lý thu TTĐ Quản lý thu TTĐ là sự tác động có chủ đích của cơ quan chức năng trong bộ máy NN đối với quá trình tính và thu TTĐ nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách NN và đạt đƣợc các mục tiêu do NN đặt ra. Sự cần thiết phải tăng cường quản lý thu TTĐ Tăng cƣờng công tác quản lý thu TTĐ nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý các khoản thu từ đất nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách NN để thực hiện 10 các mục tiêu phát triển KT - XH, tăng cƣờng QP-AN, bảo vệ môi trƣờng. NN cho thuê đất là hình thức NN trao quyền sử dụng đất cho ngƣời sử dụng đất bằng hợp đồng theo quy định của pháp luật. Nhƣng để quản lý, sử dụng và khai thác nguồn lợi từ đất đƣợc hiệu quả NN thực hiện chế độ thu TTĐ đối với NTĐ để một mặt tạo nguồn thu cho NSNN và một mặt để tạo cho ngƣời sử dụng đất có động lực đầu tƣ hiệu quả trong quá trình sử dụng đất, tránh tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả, lãng phí và phù hợp với nền kinh tế theo cơ chế thị trƣờng.
Để đạt đƣợc mục tiêu trên, trong những năm qua, NN đã không ngừng cải cách hệ thống chính sách quản lý thu TTĐ và không ngừng hoàn thiện, kiện toàn hệ thống chính sách nhằm đảm bảo tính hiệu lực của Luật Đất đai, Luật Quản lý thuế và tính hiệu quả của công tác quản lý thu TTĐ. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế phát triển và hội nhập với các quốc gia trên thế giới, công tác quản lý thu TTĐ hiện nay đã bộc lộ một số vấn đề còn vƣớng mắc, tồn tại.