Chương 1: Luận văn trình bày tổng quan về quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp y tế công lập, vấn đề tự chủ tài chính và quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập. Chương 2: Luận văn phân tích thực trạng về quản lý tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Bắc Giang: chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi và khó khăn trong việc quản lý tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Bắc Giang từ đó có cái nhìn tổng quát về công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Bắc Giang cùng những nhân tố ảnh hưởng đến công tác này sau khi chuyển sang cơ chế tự chủ tài chính và có giải pháp để khắc phục tình trạng này. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính theo hướng tự chủ tại Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Bắc Giang. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP 1.
Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập và cơ sở pháp lý của cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập. Điều 9 luật Viên chức được Quốc hội thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010 quy định: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước”. Theo quy định trên và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập thì đơn vị sự nghiệp công lập được xác định bởi các tiêu thức cơ bản sau: - Là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật.
- Hoạt động cung cấp dịch vụ công trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học công nghệ, môi trường, y tế, văn hóa thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm… - Được Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, chi phí hoạt động thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao. - Đơn vị sự nghiệp được Nhà nước cho phép thu một số loại phí, lệ phí nhất định trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức. - Có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Cơ sở pháp lý của cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
Cơ sở pháp lý của cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có công lập bao gồm: Luật Ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước gồm: + Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước. + Thông tư số 59/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 23/6/2003 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60 của Chính phủ. Thông tư số 01/2007/TT-BTC ngày 20 tháng 01 năm 2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn xét duyệt, thẩm định và thông báo quyết toán năm đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức được NSNN hỗ trợ và ngân sách các cấp. + Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài 4 chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
Và các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP gồm có. + Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. + Thông tư số 81/2006/TT-BTC ngày 06 tháng 9 năm 2006 hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính. + Thông tư số 113/2007/TT-BTC ngày 24 tháng 9 năm 2007 của Bộ Tài chính sửa đổi bổ sung Thông tư số 71/2006/TT-BTC.
+ Thông tư số 153/2007/TT-BTC ngày 17 tháng 12 năm 2007 của Bộ Tài chính sửa đổi một số điểm của Thông tư số 81/2006/TT-BTC. + Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập; Đơn vị sự nghiệp có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng hoạt động dịch vụ, nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật. Đơn vị sự nghiệp công lập được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người lao động trên cơ sở quỹ lương cấp bậc, chức vụ trong năm do Nhà nước quy định nhưng không quá 3 lần quy định đối với đơn vị tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động và không quá 2 lần đối với đơn vị bảo đảm một phần chi phí hoạt động (quy định tại Điều 18, Nghị định 43/2006/NĐ-CP). Nghị định 43/2006/NĐ-CP đã cho phép đơn vị sự nghiệp tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trên 3 lĩnh vực là tự chủ về tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu và quyết định mức thu; về sử dụng nguồn tài chính và được tự chủ trong việc sử dụng kết quả hoạt động tài chính trong năm để trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, chi trả thu nhập cho người lao động và trích lập quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ dự phòng ổn định thu nhập.
Khi Nhà nước điều chỉnh các quy định về tiền lương, nâng mức lương tối thiểu, khoản tiền lương cấp bậc, chức vụ tăng thêm theo chế độ Nhà nước quy định thì các đơn vị sự nghiệp phải tự bảo đảm từ các nguồn thu sự nghiệp và các khoản khác theo quy định của Chính phủ. Trường hợp sau khi đã sử dụng các nguồn trên nhưng vẫn không đảm bảo đủ tiền lương tăng thêm theo chế độ Nhà nước quy định, phần còn thiếu sẽ được NSNN xem xét, bổ sung để đảm bảo mức lương tối thiểu chung theo quy định của Chính phủ (quy định tại Khoản 3, Điều 18, Nghị định 43/2006/NĐ-CP). Quy định đổi mới này đã giúp cho đơn vị sự nghiệp bớt đi một sức ép rất lớn mỗi khi có sự điều chỉnh lương của Nhà nước đồng thời với những điểm đổi mới trên Nhà nước đã tạo điều kiện cho đơn vị sự nghiệp thực hiện một cách đầy đủ về quyền tự chủ, tự chịu 5 trách nhiệm của mình. Bệnh viện công lập (đơn vị sự nghiệp y tế công lập) và mô hình tổ chức quản lý Bệnh viện công lập tại Việt Nam.
Đăc điểm, phân loại, vai trò của Bệnh viện công lập (đơn vị sự nghiệp y tế công lập). Theo điều 2 của Nghị định 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 thì “Đơn vị sự nghiệp y tế công lập” là tổ chức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn y tế như: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; an toàn vệ sinh thực phẩm; dân số - kế hoạch hóa gia đình; sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe. * Đặc điểm đơn vị sự nghiệp y tế công lập Thứ nhất: Đơn vị sự nghiệp y tế công lập do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập. Đơn vị sự nghiệp y tế công lập có thể do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực tiếp ra quyết định thành lập thực hiện chức năng và nhiệm vụ được giao.
Do vậy, các đơn vị sự nghiệp y tế công lập phải tuân theo cơ chế và quy định của các cơ quan Nhà nước và cơ quan chủ quản. Thứ hai: Đơn vị sự nghiệp y tế công lập cung cấp dịch vụ công cho xã hội không nhằm mục đích sinh lời trực tiếp. Dịch vụ công được cung ứng với mục đích đáp ứng lợi ích chung và lâu dài cho xã hội. Việc cung ứng dịch vụ này không nhằm mục đích sinh lời.
Thông qua các đơn vị sự nghiệp y tế công lập, Nhà nước cung cấp những sản phẩm khám chữa bệnh, phòng dịch bệnh…nhằm thực hiện định hướng chăm sóc sức khỏe nhân dân. Các đơn vị sự nghiệp y tế được phép thu các loại phí, lệ phí, viện phí trong lĩnh vực y tế để đáp ứng một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị, đồng thời Nhà nước cũng khuyến khích các đơn vị hoạt động có hiệu quả hơn nhằm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Thứ ba: Các hoạt động do đơn vị sự nghiệp y tế thực hiện thường mang lại lợi ích chung, có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần. Hoạt động sự nghiệp công chủ yếu tạo ra các “hàng hóa công cộng” ở dạng vật chất và phi vật chất, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình tái sản xuất xã hội.
Hàng hóa công cộng là những hàng hóa mang hai tính chất không cạnh tranh và không loại trừ, mọi người đều có khả năng sử dụng và không ai có thể gây ảnh hưởng đối với việc sử dụng hàng hóa và dịch vụ công cộng của người khác. Hàng hóa công cộng có tính xã hội, vì vậy việc sử dụng những sản phẩm, dịch 6 vụ do hoạt động sự nghiệp công tạo ra nền tảng và động lực cho kinh tế, văn hóa, xã hội…phát triển.