Chương 1: Cơ sở lý luận lao động. Nói cách khác, quản tri nhân lực chịu trách nhiệm về việc đưa con người vào tổ chức giúp cho họ thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động của họ và giải quyết các vấn đề phát sinh.(trích từ giáo trình quản trị nhân lực – ThS. Nguyễn Vân Điềm). Quản lý lao động là hoạt động quản lý lao động con người trong một tổ chức nhất định trong đó chủ thể quản trị tác động lên khách thể bị quản trị nhằm mục đích tạo ra lợi ích chung của tổ chức.
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp được đặt trong sự cạnh tranh quyết liệt. Vì vậy để tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải thường xuyên tìm cách nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong đó các công việc phải quan tâm hàng đầu là quản trị lao động. Những việc làm khác sẽ trở nên vô nghĩa nếu công tác quản lý lao động không được chú ý đúng mức, không được thường xuyên củng cố.
Thậm chí không có hiệu quả, không thể thực hiện bất kỳ chiến lược nào nếu từng hoạt động không đi đôi với việc hoàn thiện và cải tiến công tác quản lý lao động. Một doanh nghiệp dù có điều kiện thuận lợi trong kinh doanh, có đầy đủ điều kiện vật chất kĩ thuật để kinh doanh có lãi, một đội ngũ công nhân viên đủ mạnh nhưng khoa học quản lý không được áp dụng một cách có hiệu quả thì doanh nghiệp đó cũng không tồn tại và phát triển được. Ngược lại một doanh nghiệp đang có nguy cơ sa sút, yếu kém để khôi phục hoạt động của nó, cán bộ lãnh đạo phải sắp xếp, bố trí lại đội ngũ lao động của doanh nghiệp, sa thải những nhân viên yếu kém, thay đổi chỗ và tuyển nhân viên mới nhằm đáp ứng tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với khả năng làm việc của từng người. Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã làm cho các mối quan hệ giữa con người càng trở nên phức tạp.
Nhiệm vụ của quản lý lao động là điều hành chính xác trọn vẹn các mối quan hệ ấy để cho sản xuất được tiến hành nhịp nhàng, liên tục và đem lại hiệu quả cao. Vì vậy vai trò của quản lý lao động đối với doanh nghiệp là rất quan trọng. Bởi lẽ quản lý lao động là bộ phận không thể thiếu được của quản trị sản xuất kinh doanh, nó nhằm củng cố và duy trì đầy đủ số lượng và chất lượng người làm việc cần thiết cho tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra, tìm kiếm và phát triển những hình thức, những phương pháp tốt nhất để con người có thể đóng nhiều sức lực cho các mục tiêu của tổ chức đồng thời cũng tạo cơ hội để phát triển không ngừng chính bản thân con người. Sử dụng có hiệu quả nguồn lực của con người là mục tiêu của quản lý lao động.
SVTH: Lê Quang Vinh Trang 13 GVHD: ThS. Phạm Thị Kim Dung Chương 1: Cơ sở lý luận 1. Vai trò của công tác quản lý lao động Vai trò của tổ chức và quản lý lao động là việc tìm kiếm, lựa chọn một cơ chế thích hợp các biện pháp hữu hiệu cho việc thực hiện tổ chức và quản lý lao động một cách đồng bộ đem lại hiệu quả cao. Ngày nay trong lĩnh vực sản xuất, nếu để tăng thêm hiệu quả hay năng lực sản xuất thì sự tiến bộ của khoa học công nghệ có ý nghĩa quyết định việc tăng năng suất lao động và quyết định khả năng cạnh tranh.
Ở đây vai trò của tổ chức rất quan trọng nó giúp cho các nhà quản lý tiết kiệm được lao động trong sản xuất kinh doanh. Với quan điểm lao động là nguồn gốc sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội, còn tăng cường tổ chức quản lý lao động một cách hiệu qủa nhất, đồng thời cải thiện mức sống cho người lao động. Vì thế về mặt kinh tế lao động là một trong các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất đó là: Nguồn vốn, lao động, tài nguyên, khoa học công nghệ. Còn về mặt chính trị: Tổ chức lao động có vai trò thực hiện chính sách chiến lược con người của Đảng và Nhà nước.
Nếu tổ chức và quản lý lao động không biết phát huy yếu tố con người (chỉ biết sử dụng mà không biết đào tạo bồi dưỡng sức lao động) sẽ dẫn tới làm tha hoá đội ngũ cán bộ công nhân và mất đi vai trò lãnh đạo của Đảng .Bởi vì chỉ có những con người này mới đảm đương được nhiệm vụ của doanh nghiệp: "Đó là làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh". Về mặt xã hội: ở nước chậm phát triển sẵn có chưa phải là một động lực cho sự phát triển vì nếu người lao động thiếu kĩ năng về quản lý ngành nghề trong quá trình làm việc thì năng lực của người lao động không được sử dụng hết. và ở nước ta cũng trong tình trạng như vậy. Tuy nhiên để có kế hoạch hoá phát triển lực lượng lao động trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội cần có từng bước.
Số lượng và tỷ lệ người tham gia vào lực lượng lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Trình độ phát triển của giáo dục đào tạo (nếu người lao động có điều kiện học tập thì khi đó trình độ năng lực của người lao động sẽ cao nhưng họ sẽ chậm tham gia vào thị trường lao động , đây chính là sự đánh đổi giữa số lượng và chất lượng lao động). Tổ chức lao động là làm như thế nào để đảm bảo cho người lao động có việc làm ổn định, bình đẳng, thu nhập phải phù hợp với khả năng và cống hiến của mỗi SVTH: Lê Quang Vinh Trang 14 GVHD: ThS. Phạm Thị Kim Dung Chương 1: Cơ sở lý luận người. Ý nghĩa của công tác quản lý lao dộng Việc quản lý lao động hợp lý, khoa học, phù hợp với điều kiện của xí nghiệp sẽ góp phần tăng năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc và tăng thu nhập cho người lao động.
Tổ chức lao động tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn, sử dụng triệt để thời gian lao động nhờ đó tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tổ chức và quản lý lao động có tác dụng tốt hơn đối với việc sử dụng hiệu quả yếu tố vật chất cuả quá trình sản xuất đảm bảo cho quá trình tiến hành một cách hợp lý ăn khớp nhịp nhàng.5 Mối quan hệ giữa lao động và tiền lương Lao động và tiền lương có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như một thể thống nhất không thể tách rời và mối quan hệ chặt chẽ này được biểu hiện như sau: Trường hợp người lao động là người làm thuê thì người chủ có thể trực tiếp (hoặc thông qua những người giúp việc) đánh giá lao động của người làm thuê và thoả thuận về tiền công. Khi tồn tại thị trường tự do cạnh tranh, cả chủ và thợ đều không thể gây áp lực cho nhau và tiền công sẽ hình thành nên mức cân bằng cung - cầu về lao động. Một điểm quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là sự kiểm soát chặt chẽ lao động từ phía chủ thuê lao động.
Họ là người trả tiền và họ tìm cách kiểm soát lao động thuê. Người làm thuê cũng thấy cần có trách nhiệm làm tốt công việc được giao. Họ hiểu rằng nếu không làm tốt, họ sẽ bị mất việc làm, hoặc thay đổi công việc tồi hơn, cắt giảm lương. và nếu là tốt, họ có thể đánh giá tốt và có thể được trả công cao.
Do đó, tiền lương là một yếu tố đầu vào của sản xuất, nếu doanh nghiệp (chủ thuê lao động) sử dụng không hợp lý sẽ lãng phí lao động, làm giảm lợi nhuận. Trong doanh nghiệp thì người quản lý phải phân công lao động hợp lý, người nào việc ấy, đúng chuyên môn trình độ điều này sẽ làm tăng năng suất lao động và tiết kiệm được quĩ lương. Còn tiền công được trả trên cơ sở người lao động làm được gì, chứ không phải người đó có bằng cấp gì. SVTH: Lê Quang Vinh Trang 15 GVHD: ThS.
Phạm Thị Kim Dung Chương 1: Cơ sở lý luận Như vậy để khuyến khích người lao động làm việc thì doanh nghiệp cần phải có chính sách, chế độ tiền lương xứng đáng, phù hợp. Đó cũng là nghệ thuật quản lý của các nhà quản trị. SVTH: Lê Quang Vinh Trang 16 GVHD: ThS. Phạm Thị Kim Dung CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN DẦU KHÍ PHÚ MỸ (PV OIL PHÚ MỸ) Chương 2: Giới thiệu về công ty 2.
Lịch sử hình thành và phát triển của PV Oil Phú Mỹ 2. Lịch sử hình thành Ngày 31/12/1999, Hội đồng quản trị Tổng công ty dầu khí Việt Nam ra quyết định số 5058/QĐ-HĐQT về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Nhà máy chế biến Condensate tại xã Phước hòa – Tân thành – Bà rịa vũng tàu. Ngày 01/12/2010 nhà máy chuyển đổi thành Công ty cổ phần sản xuất và chế biến dầu khí Phú Mỹ gọi tắt là PV Oil Phú Mỹ. Sau khi thiết kế được phê duyệt, Nhà máy bắt đầu được triển khai xây dựng từ tháng 03 năm 2000 theo hình thức Hợp đồng trọn gói EPCC bằng phương thức đấu thầu quốc tế.
Nhà thầu chịu trách nhiệm toàn bộ từ khâu thiết kế, mua sắm, xây dựng, lắp đặt và chạy thử. Chủ đầu tư phối hợp cùng Tư vấn và Kiểm định kiểm tra giám sát và phê duyệt các công việc của Nhà thầu theo yêu cầu chất lượng và tiến độ đã đặt ra. Sau 3 năm xây dựng Nhà máy bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 7/2004. Trụ sở Nhà máy chế biến Condesate là đơn vị trực thuộc Công ty chế biến và kinh doanh các sản phẩm dầu mỏ nay là Tổng Công ty Dầu Việt Nam, được thành lập theo quyết định số 1250/QĐ-DKVN ngày 06/6/2008 của Hội đồng quản trị Tập Đoàn Dầu Khí Quốc Gia Việt Nam.Vị trí đặt tại KCN Cái Mép - Tân thành - Bà rịa vũng tàu.
Nguồn vốn chủ sở hữu Nhà máy được đầu tư xây dựng với tổng nguồn vốn đầu tư là 16,700 triệu USD, trong đó Tổng công ty dầu khí Việt Nam nay là Tập đoàn dầu khí việt nam đầu tư 20%, còn lại 80% là vốn vay ngân hàng.