mở đầu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là một hoạt động kinh tế phản ánh quan hệ trao đổi hàng hoá – tiền tệ giữa người mua và người bán trên nguyên tắc thoả thuận nhằm mục tiêu đạt được lợi ích của hai bên, trong đó người mua có được sự thoả mãn về hàng hoá đáp ứng cho đầu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Người bán sẽ bán được hàng và thu tiền về. Mặt khác, mua hàng phản ánh quan hệ pháp lý giữa người mua và người bán thông SV: Phạm Thị Thanh Huyền - K42C1 16 Khoa Kinh doanh thương mại Luan van GVHD: TS. An Thị Thanh Nhàn Luận văn tốt nghiệp qua việc chuyển quyền sở hữu về hàng hoá và tiền tệ.
Sau khi hợp đồng mua bán được ký kết hoặc giữa các bên đã đạt được sự thoả thuận thì người bán sẽ mất quyền sở hữu về hàng hoá và được quyền sở hữu về tiền tệ hoặc được đòi tiền bên mua. Ngược lại, bên mua sẽ được quyền sở hữu về hàng hoá và mất quyền sở hữu về tiền tệ hoặc có nghĩa vụ phải thanh toán tiền tệ cho bên bán. - Vai trò của hoạt động mua hàng Hoạt động mua hàng trong doanh nghiệp có những vai trò cụ thể: + Mua hàng tạo tiền đề vật chất cho doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp của mình. Các doanh nghiệp muốn bán sản phẩm ra thị trường thì doanh nghiệp phải có những tiền đề vật chất.
Thực chất những tiền đề vật chất này chính là đầu vào hàng hoá của doanh nghiệp, tức là doanh nghiệp phải có các sản phẩm đó. Mua hàng sẽ giúp doanh nghiệp có được hàng hoá trong tay, từ đó bán ra thị trường. Với chức năng mua đi bán lại, doanh nghiệp mong rằng sẽ mua được hàng với chi phí thấp nhất và thoả mãn các yêu cầu khác về mua, đáp ứng tốt nhất yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp là tìm kiếm được lợi nhuận tối đa. Vì vậy doanh nghiệp muốn có lợi nhuận siêu ngạch thì phải tính đến việc mua hàng hiệu quả nhất.
+ Mua hàng góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Điều này thể hiện ở chỗ khi chi phí mua hàng của doanh nghiệp cao ( bao gồm giá mua hàng và những chi phí phát sinh như chi phí vận chuyển, chi phí đặt hàng…) đồng nghĩa với giá thành sản phẩm cao (đối với nhà sản xuất thì chi phí cho nguyên vật liệu thường chiếm từ 45%- 50% trong cơ cấu giá thành, còn đối với doanh nghiệp thương mại là 60 -80% giá thành sản phẩm bán ra), từ đó sẽ làm cho giá bán sản phẩm cao. Trên thương trường hiện nay, việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp về giá cả sản phẩm cùng loại là rất quan trọng. Một doanh nghiệp sẽ có SV: Phạm Thị Thanh Huyền - K42C1 17 Khoa Kinh doanh thương mại Luan van GVHD: TS.
An Thị Thanh Nhàn Luận văn tốt nghiệp khả năng bán được nhiều hàng hơn nếu như sản phẩm của doanh nghiệp đó có giá thấp hơn và chất lượng lại không thua kém sản phẩn của những doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp muốn bán tốt phải bắt đầu từ việc mua tốt + Mua hàng đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ hàng bán cho khách hàng theo đúng yêu cầu của họ. Đối với doanh nghiệp thương mại mua hàng kém phẩm chất hoặc mua hàng không đúng mẫu mã, chủng loại, kích cỡ thì khách hàng sẽ không thể chấp nhận những sản phẩm đó. Lúc này, việc kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không đạt hiệu quả.2 Nguồn cung ứng hàng hoá.
Yếu tố này có vai trò vô cùng quan trọng đến hoạt động cung ứng hàng hoá của doanh nghiệp thương mại. Các doanh nghiệp khi mua hàng từ các nhà cung ứng hàng hoá cần chú ý tới số lượng, chất lượng, chủng loại, mẫu mã hàng hoá, thời gian cung ứng…). Nên coi các nhà cung ứng như là bạn hàng của mình, họ không đơn thuần chỉ là người cung cấp hàng hoá cho doanh nghiệp. Mối quan hệ tốt giữa hai bên sẽ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhận được sự ưu tiên trong việc đảm bảo cung ứng hàng hoá.3 Kho dự trữ hàng hoá.
Để có đủ hàng hoá phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình, doanh nghiệp phải có hàng hoá dự trữ, do đó cần có kho để dự trữ. Bởi thị trường luôn biến động, nhu cầu về một loại hàng hoá nào đó của khách hàng luôn thay đổi. Doanh nghiệp thường mua hàng nhiều dự trữ vào thời điểm nhạy cảm như ngày lễ tết hay sự kiện quan trọng của đất nước…Lúc này nhu cầu của người tiêu dùng tăng mạnh. Nếu không có đủ hàng để bán, doanh nghiệp vừa mất đi cơ hội của mình mà lại giảm uy tín với khách hàng.4 Điều kiện tài chính của doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp muốn mua hàng hoá để bán và dự trữ nhưng lại thiếu vốn thì không thể thực hiện được kế hoạch kinh doanh của mình. Điều này cho SV: Phạm Thị Thanh Huyền - K42C1 18 Khoa Kinh doanh thương mại Luan van GVHD: TS. An Thị Thanh Nhàn Luận văn tốt nghiệp thấy, yếu tố tài chính có vai trò then chốt trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nó giúp cho doanh nghiệp chớp lấy thời cơ, chẳng hạn khi một số hàng hoá đang giảm giá, doanh nghiệp sẽ mua nhiều để dự trữ và bán ra khi nhu cầu về loại hàng này đang tăng mạnh.5 Bán hàng Là sự phối hợp giữa 2 hoạt động: hậu cần và marketing, sử dụng 3 công cụ marketing: con người, bằng chứng vật chất, và quá trình.
Tuỳ thuộc vào các phương pháp bán hàng mà có các qui trình kỹ thuật bán hàng khác nhau. Các qui trình kỹ thuật bán hàng đã được nghiên cứu ở phần trên. Bán lẻ hàng hoá là hoạt động chủ yếu của quá trình công nghệ trong cửa hàng, kết thúc quá trình hậu cần, quá trình phân phối và vận động hàng hoá. Quá trình bán lẻ có thể được chia thành 2 giai đoạn: - Giai đoạn 1: Trong giai đoạn này, nhu cầu được thể hiện và cụ thể hoá, khách hàng thực hiện việc lựa chọn hàng hoá - khách hàng hiểu biết về hàng hoá.
Giai đoạn này chủ yếu hoàn thành các nghiệp vụ phục vụ, cần phải đảm bảo cho khách hàng hiểu biết tỉ mỉ về hàng hoá. - Gai đoạn 2: Giai đoạn kết thúc. Thanh toán tiền mua hàng, bao gói và giao hàng cho khách. Giai đoạn này chủ yếu là các thao tác kỹ thuật.
Cơ cấu các thao tác của quá trình bán hàng phụ thuộc vào đặc điểm mặt hàng và đặc trưng nhu cầu mua hàng. Đặc điểm hàng: hàng đơn giản, hàng phức tạp; đặc trưng nhu cầu: nhu cầu định sẵn, nhu cầu phát sinh khi mua.3 Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước Sau khi nghiên cứu một số công trình khoa học, luận văn của những năm trước, em có một số đánh giá sau: SV: Phạm Thị Thanh Huyền - K42C1 19 Khoa Kinh doanh thương mại Luan van GVHD: TS. An Thị Thanh Nhàn Luận văn tốt nghiệp * Đề tài: Hoàn thiện quản trị cung ứng hàng hoá tại công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Việt Phú do sinh viên Lê Thị Thanh Dung lớp 39C5 đại học Thương Mại thực hiện. - Đề tài đã giải quyết được một số vấn đề sau: + Nêu đầy đủ những vấn đề lý luận chung về cung ứng hàng hoá trong hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp thương mại + Dựa vào số liệu thu thập được, tác giả đã phân tích được tình hình thực hiện kế hoạch cung ứng hàng hoá, thực trạng quản trị cung ứng hàng hoá và dự báo được tình hình cung ứng hàng hoá trong những năm tiếp theo của công ty TNHH Việt Phú.
- Hạn chế: Phần giải pháp để giúp doanh nghiệp cải thiện tình hình cung ứng hàng hoá còn mang tính tổng quát và ít sát với thực tế. * Đề tài: Hoàn thiện công nghệ cung ứng bán buôn hàng hoá tại công ty TNHH thương mại Sao Việt do sinh viên Nguyễn Thị Hoa lớp 39C5 đại học Thương Mại thực hiện. - Đề tài đã giải quyết được một số vấn đề sau: + Nêu lên được đầy đủ những lý luận cơ bản về cung ứng hàng hoá trong hoạt động kinh doanh ở các doanh nghiệp thương mại. + Đánh giá đúng thực trạng về tình hình cung ứng hàng hoá tại công ty nghiên cứu.
Đã đề ra được những giải pháp cung ứng hàng hoá phù hợp với tình hình thị trường, giúp doanh nghiệp thực hiện tốt mục tiêu đã đề ra. - Hạn chế: + Các giải pháp kiến nghị chưa thực sự sát với tình hình cung ứng thực tế tại doanh nghiệp. + Trong quá trình phân tích, tác giả chưa đánh giá chính xác nguyên nhân của những hạn chế về tình hình cung ứng tại công ty. * Tóm lại: Về cơ bản, các công trình nghiên cứu trên đã đạt được những ưu điểm nhất định, thể hiện những nỗ lực khi nghiên cứu.
Tuy nhiên, vẫn mắc một số nhược điểm nhỏ, đó là đề tài thiên về lý luận. Phần đánh giá còn chung SV: Phạm Thị Thanh Huyền - K42C1 20 Khoa Kinh doanh thương mại Luan van GVHD: TS. An Thị Thanh Nhàn Luận văn tốt nghiệp chung, về vấn đề phân tích thì chưa sát với thực tế để đánh giá đúng thực trạng cung ứng hàng hoá tại doanh nghiệp. Các giải pháp đưa ra còn mang tính tổng quát, có thể khó đem vào áp dụng thực tế tại doanh nghiệp thương mại trên.4 Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu của đề tài: Từ tình hình thực tế của công ty và phạm vi nghiên cứu của mình em xin đưa ra các nội dung của vấn đề nghiên cứu: 2.1 Quy trình cung ứng hàng hoá cho mạng lưới bán lẻ.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình cung ứng hàng hoá cho mạng lưới bán lẻ.
SV: Phạm Thị Thanh Huyền - K42C1 21 Khoa Kinh doanh thương mại Luan van GVHD: TS. An Thị Thanh Nhàn Luận văn tốt nghiệp CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CUNG ỨNG HÀNG HOÁ TẠI CÔNG TY CPTM CẦU GIẤY.1 Phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề về cung ứng hàng hoá.1 Phương pháp thu thập dữ liệu.1 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp Để thu thập dữ liệu sơ cấp, đề tài đã sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên sâu: Hầu hết nhân viên trong công ty đều rất bận rộn, vì thế để có được những thông tin quan trọng người phỏng vấn phải liên lạc, nói rõ mục đích của mình để họ có thể sắp xếp thời gian, địa điểm cụ thể.